MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới, hội nhập và phát triển Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế - xã hội, văn hóa đến giáo dục và y tế,. diện mạo đất nước đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì trong những năm gần đây ngành y tế nước ta cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thực hiện tốt hơn (Thông tấn xã Việt Nam, 2016) Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê (2017), trong 12 769 cơ sở y tế hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật, chính sách về y tế đã được ban hành và từng bước được hoàn thiện trong thực tiễn; những tiến bộ khoa học - kỹ thuật về y tế ngày một phát triển, cơ sở vật chất y tế ngày càng được cải thiện, sự chăm lo của cộng đồng trong đó có hoạt động nhân đạo, từ thiện được đẩy mạnh đã góp phần tích cực hỗ trợ cho người dân, những người yếu thế trong xã hội khắc phục những rủi ro gặp phải trong quá trình khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe (Quốc Hội, 8/2018). Tuy nhiên, ngành y tế hiện nay phải đối mặt với rất nhiều vấn đề của riêng mình như chất lượng y tế cơ sở còn thấp, hệ thống khám chữa bệnh (KCB) ngày càng quá tải, công tác bảo hiểm y tế cũng còn nhiều vấn đề, các dịch bệnh vẫn rình rập và có thể bùng phát bất kỳ lúc nào, nhiều vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đặt con người trước những nguy cơ mới. Trong thời gian qua, các vấn nạn nảy sinh trong Bệnh viện đã được truyền thông thường xuyên đăng tải như: tình trạng quá tải, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh với điều dưỡng, giữa người nhà người bệnh với các cơ sở y tế, “cò BV”, những vướng mắc trong làm thủ tục KCB,… Nếu không khắc 2 phục được những vấn đề này sẽ để lại nhiều hậu quả đáng tiếc. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải có lực lượng hỗ trợ đội ngũ cán bộ y tế giải quyết những vấn đề này: Đó chính là những nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện.
Bên cạnh đó, tại cộng đồng, nhiều chương trình mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham gia của nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV tại cộng đồng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, phòng chống lao, phòng chống bệnh tâm thần, quản lý sức khoẻ hộ gia đình, sức khoẻ sinh sản, phòng chống tai nạn thương tích… Theo Từ điển Bách khoa Xã hội, “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho mọi người trong xã hội”. Trên một thế kỷ qua, khoa học và nghề chuyên môn công tác xã hội đã hình thành và phát triển đem lại những lợi ích đáng kể thông qua việc cung cấp các dịch vụ hữu ích cho con người. Đến nay, công tác xã hội có mặt tại gần 90 quốc gia trên thế giới, đã và đang hỗ trợ cho những người yếu thế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại bình đẳng và công bằng xã hội [22]. Với ý nghĩa quan trọng đó, công tác xã hội đã được đưa vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Chăm sóc hỗ trợ những đối tượng thiệt thòi, yếu thế (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật,…) trong toà án, trường học và nhất là trong lĩnh vực y tế.
Như vậy với tư cách là một ngành khoa học, một nghề chuyên nghiệp, CXTH cung cấp các dịch vụ để giải quyết tốt các vấn đề hiện nay trong các khâu KCB nêu trên. Đẩy mạnh triển khai mô hình CTXH trong lĩnh vực y tế không chỉ là một nhu cầu bức thiết hiện nay mà đó còn là một giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng cho các dịch vụ y tế trong bệnh viện/các cơ sở y tế và chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết 3 định, ngày 15/07/2011, Bộ Y tế đã chính thức ban hành quyết định số 2514/QĐ- BYT về việc triển khai “Đề án phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong ngành y tế giai đoạn 2011-2020”, nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình KCB thông qua quá trình trợ giúp của CTXH. Ngoài ra, việc Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2015 quy định về nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ Công tác xã hội của bệnh viện là văn bản sát sườn nhất với những người thực hiện Công tác xã hội trong Bệnh viện.
Đến thời điểm này, mặc dù còn là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng Công tác xã hội trong Bệnh viện cũng đang có rất nhiều triển vọng để phát triển. Với tư cách là một nhân viên CTXH, mô hình hoạt động của tổ CTXH cũng đang là vấn đề mới, chưa được nghiên cứu một cách chính thức và nghiêm túc nên tác giả thực sự quan tâm và muốn tìm hiểu về vấn đề này. Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, nghiên cứu này là nghiên cứu lần đầu tiên đưa vấn đề Công tác xã hội trong Bệnh viện ra bàn luận, đặc biệt là thực tiễn mô hình Công tác xã hội là vấn đề hết sức mới mẻ. Với mong muốn cuối cùng của tác giả là khái quát hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình CTXH trong bệnh viện, đánh giá các hoạt động của mô hình công tác xã hội hiện có tại Bệnh viện, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình CTXH trong bệnh viện và tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Từ những lý do và sự cấp bách cần phải có nghiên cứu về mô hình CTXH trong bệnh viện phù hợp với nhu cầu người bệnh trong bối cảnh tỉnh Phú Thọ, tác giả quyết định chọn đề tài: “Mô hình Công tác xã hội từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ” cho nghiên cứu luận văn thạc sĩ Công tác xã hội. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Trên thế giới Ở Mỹ, CTXH lần đầu tiên được đưa vào BV năm 1905 tại Boston và đến nay hầu hết các BV đều có phòng CTXH và đây là một trong những điều kiện để các BV được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Mỹ (Tác giả P.N, Viện Khoa học Xã hội và nhân văn - Trường Đại học Vinh, 12/2018). Tại Bệnh viện, nhân viên công tác xã hội là một thành phần trong ê kíp trị liệu.
Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của người bệnh. Nhân viên công tác xã hội còn thực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực, tránh xấu hổ, tư vấn về điều trị… (Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, 2017). Nhân viên công tác xã hội cũng có thể tham mưu về kế hoạch xuất viện của người bệnh và theo dõi người bệnh sau khi ra viện. Chăm sóc sức khỏe (CSSK) tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của nhân viên công tác xã hội.
Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng như: truyền thông, giáo dục sức khoẻ, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần… Sự xuất hiện của nhân viên công tác xã hội trong CSSK tại cộng đồng là phương thức để mở rộng mạng lưới CSSK đến với người dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khoẻ bằng chính khả năng của mình và với các phương pháp thích hợp. Đồng thời, CTXH còn cần thiết phải được ứng dụng ở cấp hoạch định chính sách về CSSK. Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, CSSK được xác định là một trong những lĩnh vực của An sinh xã hội. Do đó, khi hoạch định những chính sách về CSSK cần phải ứng dụng những tri thức của CTXH sao cho mọi người dân đều có cơ hội được hưởng lợi.
Ở Singapore hay Philippines tại hầu hết ở các Bệnh viện đều thành lập một đơn vị chuyên đảm nhận hoạt động thực hành CTXH trong BV (Nguyễn 5 Quốc Khá (2013), Tr. Về cơ cấu tổ chức có thể là một bộ phận trực thuộc BV do ngành y tế quản lý, cũng có thể là một bộ phận độc lập hoạt động tại bệnh viện nhưng do ngành chủ quản (như ngành Lao động – Thương binh và xã hội) quản lý. Kinh phí để duy trì hoạt động có thể từ kinh phí Nhà nước, song cũng có thể huy động từ quỹ của người bệnh hoặc quỹ KCB tại BV do cộng đồng quyên góp. Tại Việt Nam Theo thống kê của ngành y tế, hiện nay cả nước có hơn 1.000 BV, với gần 300.000 giường bệnh.
Trong số đó, có 42 BV tuyến TW với gần 22.000 giường bệnh, 348 BV tuyến tỉnh với 199.342 giường bệnh. Tuy nhiên, hiện tại, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành y tế (tại cộng đồng, trong BV và ở cấp hoạch định chính sách) đều thiếu hoặc ít có sự tham gia của CTXH. Bài viết “Mô hình Công tác xã hội tại Mỹ và hướng ứng dụng tại Việt Nam” của tác giả Trương Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu đăng ngày 26/11/2016 trên mục Những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành tại Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Công tác xã hội trong Bệnh viện cho thấy điều kiện ở Việt Nam đòi hỏi cần có những mô hình được đưa vào áp dụng, tuy nhiên, việc áp dụng mô hình CTXH nào tại các bệnh viện ở Việt Nam còn tùy vào nhu cầu, cơ cấu và mục tiêu của từng bệnh viện. Bài viết đã phân tích đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của từng mô hình đối với từng hệ thống bệnh viện tại Việt Nam.