1 MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU. Lý do chọn đề tài. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài. Những công trình nghiên cứu về vai trò của việc rèn luyện sinh viên ở môi trường đại học.
Những công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi lệch chuẩn của sinh viên trong việc thực hiện quy chế nhà trường tại môi trường đại học. Những công trình nghiên cứu liên quan đến sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài. Mục tiêu đề tài.
Nhiệm vụ đề tài. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu.
Phương pháp thu thập thông tin. Phương pháp xử lý số liệu. Dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp.
Mô tả mẫu. Giới tính, năm học của sinh viên trong mẫu nghiên cứu. Số lượng sinh viên của mỗi khoa/bộ môn trong mẫu nghiên cứu. Các khái niệm liên quan.
Hành vi lệch chuẩn. Hành động xã hội. Phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu. Không gian nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu. Đóng góp mới của đề tài.
Câu hỏi nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn.
28 THỰC TRẠNG LỆCH CHUẨN CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ NHÀ TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. Thực trạng lệch chuẩn của sinh viên tham gia khảo sát. Thói quen của sinh viên trong trường đại học. Mức độ thường xuyên đối với các hoạt động trong quá trình học tập tại trường 31 1.
Mức độ thực hiện văn hóa ứng xử trong môi trường đại học. Mức độ thực hiện tác phong trang phục trong môi trường giáo dục. Mức độ thực hiện công tác bảo quản cơ sở vật chất nhà trường. 40 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI LỆCH CHUẨN CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ NHÀ TRƯỜNG.
Quan niệm về thái độ và hành vi của sinh viên tham gia khảo sát. Sự giám sát, nhắc nhở của nhà trường. Phương tiện tiếp cận. 52 Tài liệu tham khảo.53 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.
Mức độ quan tâm của sinh viên tham gia khảo sát đối với bộ 10 quy tắc ứng xử. Tính sát sao của công tác kiểm tra, giám sát, nhắc nhở. Tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu. Tỷ lệ sinh viên của mẫu khảo sát chia theo năm học.
Số lượng sinh viên các khoa/bộ môn trong mẫu nghiên cứu. Khu vực sinh sống trước khi lên đại học của sinh viên tham gia khảo sát. Nơi sinh sống hiện tại của sinh viên tham gia khảo sát.Mức độ biết đến các quy định về tác phong, văn hóa ứng xử của nhóm sinh viên khảo sát trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mối tương quan giữa giới tính với mức độ biết đến quy định về tác phong, văn hóa ứng xử của nhà trường.
Mức độ biết đến bộ 10 quy tắc ứng xử của nhóm sinh viên khảo sát trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia. Mức độ quan tâm đến bộ 10 quy tắc ứng xử của nhóm sinh viên khảo sát trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia. Mức độ thực hiện quy chế nhà trường của sinh viên tham gia khảo sát. Mức độ việc thực hiện tác phong, văn hóa ứng xử của sinh viên tham gia khảo sát.
Mức độ thực hiện tác phong của sinh viên tham gia khảo sát. Mối tương quan giữa vấn đề đeo thẻ sinh viên khi vào trường với yếu tố năm học của sinh viên. Mức độ thực hiện bảo quản cơ sở vật chất nhà trường của sinh viên tham gia khảo sát. Tính liên tục và xuyên suốt trong việc thực hiện quy chế nhà trường của sinh viên tham gia khảo sát.
Mức độ đồng ý với quan điểm về thực hiện quy chế nhà trường. Mức độ đồng ý với quan điểm về việc thực hiện quy chế nhà trường. Mức độ đồng ý với quan điểm về việc thực hiện văn hóa ứng xử của sinh viên tham gia khảo sát. Mức độ đồng ý với quan điểm về việc thực hiện tác phong, văn hóa ứng xử của sinh viên tham gia khảo sát.
Sự giám sát, nhắc nhở của nhà trường đối với sinh viên trong thực hiện quy chế nhà trường. Các nguồn tiếp cận quy chế về tác phong, văn hóa ứng xử. Các nguồn tiếp cận quy chế về bộ 10 quy tắc ứng xử. Lý do chọn đề tài “Sinh viên là một trong những chủ nhân tương lai của đất nước, mang sứ mệnh khẳng định trí tuệ và tầm vóc Việt Nam với bạn bè thế giới” (Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, 2018).
Trong bối cảnh hướng đến mục tiêu công dân toàn cầu hiện nay, nhu cầu về nguồn nhân lực đòi hỏi mỗi cá nhân phải có đủ những năng lực bắt buộc để thích ứng với xã hội. Trên tinh thần đó, sinh viên cần chuẩn bị cho bản thân đủ năng lực khi còn đang trong môi trường đại học để trở thành công dân toàn cầu tương lai. “Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực Khoa học Xã hội Nhân văn lớn nhất khu vực phía Nam và là nơi có những đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực, về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường văn hoá đại học. Với sứ mạng to lớn, trường ngày càng khẳng định được vị thế của mình thông qua giá trị cốt lõi: sáng tạo, dẫn dắt, trách nhiệm hướng đến mục tiêu đào tạo ra những công dân toàn cầu tương lai.
Hàng năm, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm luôn đạt trên mức 90%, sinh viên nhà trường sẽ hoạt động trên nhiều lĩnh vực liên quan đến xã hội, giao tiếp, ứng xử, hoạt động trong các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, hoạt động vì xã hội” (Trang thông tin tuyển sinh, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2020) góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, trở thành nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên môn sâu và vai trò trở thành người trí thức của đất nước. Hiện nay, bên cạnh những điểm tích cực, thực tế vẫn có những tồn tại của sinh viên trường về thái độ ứng xử cũng như thực hiện quy chế. Theo lời chia sẻ của rất nhiều anh chị cựu sinh viên trong “Diễn đàn việc làm và khởi nghiệp”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra vào tháng 10/2019 đây là điểm hạn chế quan trọng nhất, thiếu sót rất lớn này hầu hết trong quá trình học tập chưa được thầy cô đề cập đến nhiều trong trường đại học, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của sinh viên và về lâu dài sẽ tạo thành những suy nghĩ lệch chuẩn. 6 Mặt khác, vấn đề này cũng đã được những công trình quan tâm trong thời gian gần đây (Nguyễn Khánh Ly, 2003) (Hàn Văn Lựa, 2018).
Với vai trò của một người sinh viên, trong văn hoá ứng xử, lơ là nội quy, quy chế nhà trường, ký túc xá, thực trạng hiện nay các bạn sinh viên đang lơ là, chưa thực hiện tốt các nội quy, quy định trường học như việc đeo thẻ sinh viên, thường xuyên đi học trễ và cả cách ứng xử với nhân viên làm việc tại trường (bảo vệ, nhân viên giữ xe) không những đang phản ảnh vấn đề lệch chuẩn so với những quy tắc ứng xử được nhà trường mà còn có ảnh hưởng ít nhiều trực tiếp đến lối sống của chính các bạn sinh viên và tập thể xung quanh (Hàn Văn Lựa, 2018). Theo số liệu thống kê ba học kì gần nhất, số sinh viên buộc thôi học và cảnh cáo học vụ có xu hướng ngày càng tăng theo từng học kì. Học kì 2 năm học 2018 - 2019, có 135 sinh viên bị cảnh cáo học vụ và 156 sinh viên buộc thôi học, học kì 1 năm học 2019 - 2020 số sinh viên bị cảnh cáo học vụ và buộc thôi học tăng lên lần lượt là 115 và 166 sinh viên và học kì 2 năm học 2019 - 2020 – đây cũng là học kì gần nhất, trường dự kiến sẽ cảnh cáo học vụ 167 và buộc thôi học 210 sinh viên (Phòng công tác sinh viên, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2020). Những con số ít nhiều phản ánh về thái độ của sinh viên đối với việc học tập của chính mình nói riêng và việc thực hiện quy chế nhà trường nói chung.
Để đạt được mục tiêu đào tạo ra những nguồn nhân lực chất lượng, vừa giỏi chuyên môn vừa giỏi kỹ năng và khéo léo trong ứng xử, cần thiết phải lưu tâm đến việc hạn chế tối đa những hành vi mang xu hướng lệch chuẩn, nâng cao ý thức chấp hành của sinh viên cũng như cải thiện hiệu quả quản lý trong việc tuân thủ những nội quy, quy chế, văn hóa ứng xử của nhà trường. Dựa trên những mong muốn này, đề tài tiến hành tìm hiểu “Những yếu tố tác động đến hành vi lệch chuẩn của sinh viên trong việc thực hiện quy chế nhà trường tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Dưới góc độ xã hội học, “chuẩn mực là một kỳ vọng mà mọi người trong một xã hội nhất định đều đồng ý – đây được coi là điều đáng mong muốn, nên làm, và là điều phù hợp xét về mặt văn hóa” (Trần Hữu Quang, 2019, trang 176). Những hành vi 7 không tôn trọng hoặc làm trái với chuẩn mực được xem là hành vi lệch chuẩn (Trần Hữu Quang, 2019, trang 183).
Như vậy các hành vi lệch chuẩn của sinh viên trong môi trường đại học là những hành vi không tôn trọng hoặc làm trái với quy chế nhà trường. Hành vi lệch chuẩn phong phú về mặt biểu hiện, phức tạp về mặt nguyên nhân, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội và trở ngại trong việc tìm kiếm biện pháp để khắc phục. Chính vì vậy, hành vi lệch chuẩn đang là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ các ban ngành khác nhau.