chương 1, tác giả đã nêu lý do chọn đề tài, sự cần thiết, mục tiêu của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài. Tiếp theo chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và thực trạng nghiên cứu. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Trong chương 2, tác giả trình bày một số nội dung chính bao gồm: Một số khái niệm và các lý thuyết, giả thuyết có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Cơ sở lý thuyết và giả thuyết 2.1 Kết quả học tập của học sinh, sinh viên Kết quả học tập là kiến thức, kỹ năng thu nhận của học sinh, sinh viên là mục tiêu quan trọng nhất của thầy và trò.
Có những quan điểm và cách thức đo lường Kết quả học tập của học sinh, sinh viên trong học tập tại các trường học. Kết quả học tập có thể được đo lường thông qua điểm của môn học (Hamer, 2000 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Kết quả học tập cũng có thể do sinh viên tự đánh giá về quá trình học tập và kết quả tìm kiếm việc làm (Clarke & ctg, 2001 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Trong nghiên cứu này, kết quả học tập của học sinh, sinh viên được định nghĩa là những đánh giá tổng quát của chính học sinh, sinh viên về kiến thức và kỹ năng mà học sinh, sinh viên thu nhận được trong quá trình học tập các môn học cụ thể tại trường.2 Động cơ học tập của học sinh, sinh viên Động cơ học tập là lòng ham muốn tham dự và học tập những nội dung của môn học/Mô đun.
Việc xây dựng và đo lường khái niệm động cơ học tập thường dựa vào phương pháp tự đánh giá hiệu quả. Động cơ học tập là quá trình quyết định của học sinh, sinh viên về định hướng, mức độ tập trung và nổ lực của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập. Kết quả học tập của học sinh, sinh viên sẽ gia tăng khi động cơ học tập của họ được nâng cao (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Vậy, đối với học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề tỉnh Bình Thuận thì động cơ học tập có ảnh hưởng không và ảnh hưởng như thế nào đến kết quả học tập, giả thuyết sau đây được đề nghị.
6 Giả thuyết H1: Có mối quan hệ thuận giữa động cơ học tập và kết quả học tập của học sinh, sinh viên.3 Tính kiên định trong học tập Tính kiên định là một khái niệm tiềm ẩn thể hiện thái độ của con người thông qua sự cam kết, kiểm soát và thử thách trong cuộc sống (Britt & ctg, 2001 – trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ, 2010). Kiên định trong học tập thể hiện qua học sinh, sinh viên dành hết tâm trí và sức lực (cam kết), chịu đựng và hành động tích cực (kiểm soát) và đón nhận thay đổi (thử thách) trong quá trình học tập và sinh hoạt của mình tại trường học (Nguyễn Đình Thọ, 2010). Với những học sinh, sinh viên có tính kiên định cao trong học tập, họ có khả năng kiểm soát căng thẳng trong quá trình học tập thì họ sẽ vượt qua được những áp lực trong việc học thông qua việc giải quyết những bài học, bài tập và bài thi. Vì vậy, kiên định trong học tập ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh, sinh viên trường nghề, giả thuyết sau đây được đề nghị.
Giả thuyết H2: Có mối quan hệ thuận giữa tính kiên định học tập và kết quả học tập của học sinh, sinh viên.4 Cạnh tranh trong học tập Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về cạnh tranh cá nhân và nó có thể có nghĩa tích cực hay tiêu cực như: Cạnh tranh thắng thế nói lên đặc tính của một cá nhân mà người này có nhu cầu là phải đạt được mục tiêu của mình bằng mọi giá trong cuộc sống, đây là cạnh tranh tiêu cực. Cạnh tranh phát triển là cạnh tranh để tự phát triển khả năng của mình. Cạnh tranh phát triển đem lại nhiều lợi ích cho cá nhân và xã hội (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Cạnh tranh cá nhân trong quan hệ học sinh, sinh viên với nhau trong trường học thường mang tính chất cạnh tranh phát triển.
Các học sinh, sinh viên vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau để có thể đạt được thành quả cao nhất trong học tập. Như vậy, có thể nói cạnh tranh trong học tập là động lực mang lại kết quả học tập cao (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Đối với học sinh, sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề tỉnh Bình Thuận thì cạnh tranh học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập 7 không? Giả thuyết sau đây được đề nghị. Giả thuyết H3: Có mối quan hệ thuận giữa cạnh tranh trong học tập và kết quả học tập của học sinh, sinh viên.5 Ấn tượng về trường đang học Ấn tượng của một thương hiệu của sản phẩm hay của tổ chức phản ánh cảm nhận của khách hàng về thương hiệu đó (Aaker, 1996; Balmer & Greyser, 2006 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009).
Ấn tượng thương hiệu về trường học đóng vai trò quan trọng đối với những ai có liên quan. Đối với học sinh, sinh viên khi họ cảm nhận về một trường học có tiếng tăm, họ có xu hướng tin tưởng rằng trường học này có chất lượng và họ sẽ có nhiều cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp. Cảm nhận này cũng giúp họ củng cố niềm tin trong học tập (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009). Học sinh, sinh viên có ấn tượng tốt về trường học sẽ làm gia tăng kết quả học tập.
Vì vậy, ấn tượng trường học có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, sinh viên, giả thuyết sau đây được đề nghị. Giả thuyết H4: Có mối tương quan thuận giữa ấn tượng trường học và kết quả học tập của học sinh, sinh viên.6 Phương pháp học tập Phương pháp học tập ở bậc đại học do Robert Feldman (Đại học Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên cách học tập có hiệu quả nhất bao gồm 05 yếu tố cơ bản là lập kế hoạch học tập, tổ chức học tập, hoạt động học tập, đánh giá học tập, suy nghĩ lại và cũng theo Trần Lan Anh (2009), phương pháp học tập được biểu hiện ở các khía cạnh sau: - Lập kế hoạch học tập (lập thời gian biểu cho việc học tập) là một việc làm quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu suất và chất lượng học tập. Việc lập kế hoạch như tìm hiểu về mục tiêu môn học trước khi môn học bắt đầu, tìm ra phương pháp học tập phù hợp với từng môn học, tìm đọc tất cả những tài liệu do giáo viên hướng dẫn, chủ động tìm đọc thêm tài liệu tham khảo, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. - Hoạt động tự học (học sinh, sinh viên sử dụng thao tác tư duy) là một quá trình sinh lý tạo ra những khái niệm đã được khái quát hóa về các mối quan hệ 8 khách quan.
Đối với học tập thao tác tư duy được thể hiện như ghi chép bài đầy đủ theo cách hiểu của mình, tóm tắt và tìm ra ý chính khi đọc tài liệu, vận dụng các kiến thức đã học để làm các bài tập thực hành. - Hoạt động học tương tác là sự tương tác giữa thầy và trò; giữa học sinh, sinh viên với nhau là điều kiện cần thiết để học sâu. Hoạt động tương tác như: Phát biểu xây dựng bài, thảo luận-học nhóm. - Tự đánh giá kết quả học tập một cách trung thực là ngoài việc đánh giá kết quả học tập của Trường, học sinh, sinh viên còn phải tự đánh giá chính bản thân dựa trên các sản phẩm tạo ra trong quá trình học tập theo mục đích của bài học.
Phương pháp học tập hiệu quả cho một môn học/mô đun là quá trình hoạt động diễn ra trước buổi học, trong buổi học và sau buổi học (Nguyễn Thanh Long và cộng sự (2008). Các tác giả cũng cho rằng phương pháp học tập tốt, là phương pháp học tự lực, sáng tạo và tích cực. Khi biết phương pháp học sẽ giúp cho người học tiết kiệm được thời gian, hiểu bài tốt hơn và sẽ có niềm đam mê học hơn và chắc chắn rằng người học sẽ có điểm số tốt trong học tập. Vì vây, giả thuyết H5 có thể mong đợi rằng có mối tương quan thuận giữa phương pháp học tập và kết quả học tập của học sinh, sinh viên.2 Một số mô hình nghiên cứu liên quan 2.1 Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani (2002) Theo Bratti và Staffolani (2002), KQHT của SV chủ yếu được xác định bởi thái độ học tập của sinh viên vì sự phân bổ thời gian cho việc học tùy thuộc vào quyết định của họ.
Do đó, KQHT của SV phần lớn phụ thuộc vào thái độ học tập của họ: Gi = G(si, ai)ei Trong đó: Gi là KQHT của sinh viên; Si là thời gian tự học; ai là thời gian học ở lớp ; ei là năng lực của người đó. 9 Trong mô hình Bratt và Staffolani, đặc điểm của SV đóng vai trò chính là yếu tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến KQHT của SV.2 Mô hình ứng dụng của Checchi et al (2000) Mô hình này nhằm dự đoán về mối quan hệ giữa đầu tư cho giáo dục của cha mẹ và KQHT của con cái. Cơ sở của mô hình này là cha mẹ dành một phần thu nhập của mình đầu tư vào việc học của con cho dù SV hoàn toàn độc lập và có trách nhiệm về KQHT của họ nhưng nguồn lực gia đình vẫn có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của SV. P = P(A, E, S,Yf) Trong đó: P là KQHT của sinh viên; A đặc điểm của sinh viên đại diện là trí thông minh; Yf là điều kiện gia đình đại diện là thu nhập của gia đình; S là số tiền đầu tư cho giáo dục của người con; E là mức độ cố gắng.3 Mô hình ứng dụng của Dikie (1999) Dựa vào kết quả nghiên cứu Dickie đã kết luận rằng KQHT của người học là kết quả của mối quan hệ tương hỗ của ba nhóm yếu tố gia đình, nhà trường và người học, được xác lập một mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KQHT như sau: A* = A* (F, S, Ka) Trong đó: P là KQHT của sinh viên; F là năng lực gia đình; S là nguồn lực của nhà trường; Ka là đặc điểm của người học và năng lực cá nhân a.
Ba mô hình được giới thiệu có phạm vi nghiên cứu khác nhau.