Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực GV Đại học 3. Chương 2: Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của GV CTĐT POHE tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam 4. Chương 3: Thực trạng năng lực giảng dạy của GV CTĐT POHE ngành Rau – Hoa quả và Cảnh quan tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam 5. Kết luận và khuyến nghị 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1.
Năng lực giảng dạy 1. Khái niệm năng lực Khái niệm về năng lực thì có rất nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về năng lực và theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng. Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (2001): Năng lực là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Theo Phạm Minh Hạc (2002): Năng lực nói lên “người đó có thể làm gì, làm đến mức nào, làm với chất lượng ra sao.
Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay “tài”. Dưới góc độ giáo dục học, chúng ta có thể xem xét năng lực là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện của cá nhân, thể hiện ở những kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào một lĩnh vực hoạt động nhất định. Như vậy ở góc độ này, người có năng lực ở lĩnh vực nào thì nhất định phải có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực ấy, có thái độ tích cực để vận dụng tri thức kỹ năng hiệu quả vào các hoạt động. Nghiên cứu này xác định năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một công việc cụ thể hay nói cách khác năng lực là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị của cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có hiệu quả.
Muốn đánh giá năng lực cá nhân phải xem xét chúng trong hoạt động, năng lực của người lao động đáp ứng yêu cầu công việc là sự tổng hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm 7 được tích lũy trong quá trình học tập tại cơ sở đào tạo và trong thời gian làm thực tế được biểu hiện qua mức độ hoàn thành công việc của họ. Khái niệm năng lực giảng dạy Giảng dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách [1]. Kỹ năng giảng dạy (hay nói một cách khác là kỹ năng dạy học) là khả năng thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác của một hành động giảng dạy bằng cách lựa chọn, vận dụng những tri thức những cách thức và quy trình hợp lý. Năng lực giảng dạy (hay năng lực dạy học) là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học với chất lượng cao.
Năng lực dạy học bộc lộ trong hoạt động dạy học và gắn liền với một số kỹ năng dạy học tương ứng [13]. Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa các đặc điểm tâm lý và sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề đặt ra. Đối với GV năng lực giảng dạy được hiểu: - Năng lực hiểu biết rộng, để phát triển nhân cách cho SV thì GV phải có tri thức, thái độ, tình cảm , quan điểm, kỹ năng…Năng lực hiểu biết rộng, làm chủ kiến thức thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình là yếu tố quan trọng quyết định sự hình thành bài giảng của GV. - Năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học: hiểu SV trong quá trình giảng dạy được xem là chỉ số cơ bản của năng lực sư phạm là điều kiện tiên quyết cho hoạt động giảng dạy của GV thành công.
Đó là năng lực: dự đoán được thuận lợi và khó khăn của SV khi tiếp thu bài giảng; Nắm vững được trình độ của SV; Đo lường được mức độ hiểu bài của SV; Hiểu được đặc điểm nhân cách của SV (tính cách, thiên hướng, sở trường…); Quan sát và phân tích sự phản hồi của SV. - Năng lực thiết kế kế hoạch dạy học: năng lực này đòi hỏi những kỹ năng như nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và môn học, lớp học. Soạn bài giảng, GV phải đưa tri thức khoa học vào các bài giảng và làm cho 8 người khác tiếp nhận những tri thức đó. Năng lực này được đánh giá qua một số kỹ năng: Xác định được kiến thức cơ bản trong bài giảng; Xác định quan hệ các kiến thức trong bài giảng; Huy động các kiến thức liên quan đến bài giảng; Liên hệ và ứng dụng bài giảng vào thực tiễn xã hội; Sử dụng các phương tiện, phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung bài giảng; Phân bố thời gian giảng dạy hợp lý.
- Năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học được đánh giá ở một số kỹ năng sau: Tổ chức cho SV hoạt động học tập; Diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ; Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại; Thực hiện các thí nghiệm, thực nghiệm; Bao quát lớp học; Giải quyết các tình huống phát sinh trong giờ giảng; Đưa ra câu hỏi, bài tập kiểm tra trên lớp. - Năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học: theo hướng dạy học tập chung vào hoạt động học của SV, GV không những phải biết cách đánh giá chính xác, công bằng kết quả học tập của SV mà còn phải có năng lực phát triển khả năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong SV, giúp các em tự điều chỉnh cách học. GV phải nắm vững các phương pháp kiểm tra truyền thống mà còn phải biết vận dụng một số phương pháp kiểm tra hiện đại trên các thiết bị công nghệ thông tin. Năng lực đánh giá đòi hỏi các kỹ năng thiết kế đề kiểm tra, xây dựng chuẩn đánh giá, xử lý kết quả kiểm tra, công khai hóa kết quả đánh giá thành tích [13].
Đánh giá năng lực giảng dạy 1. Khái niệm đánh giá Theo Owen & Roger (1999) thì khái niệm đánh giá được hiểu là: Đánh giá là việc thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được. Đánh giá là một quá trình bao gồm: - Chuẩn bị một kế hoạch - Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả 9 - Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá. Sản phẩm của đánh giá bao gồm: Dữ liệu thu được, các nhận định và các kết luận, kiến nghị dựa trên các thông tin, bằng chứng thu được đó.
Quy trình đánh giá có thể bao gồm các bước sau: - Xây dựng các tiêu chí đánh giá (xem xét sự vật, hiện tượng dưới các góc độ nào để có được đầy đủ thông tin về đối tượng đánh giá). - Xây dựng các chuẩn mực (mong muốn, yêu cầu đối tượng đánh giá phải đạt được cái gì, mức độ nào). - Đo lường các thuộc tính của đối tượng đánh giá theo các tiêu chí và đối chiếu với chuẩn mực. Tổng hợp, tích hợp các bằng chứng thu được để đưa ra những nhận định chuẩn xác [15].
Mô hình năng lực Mô hình năng lực AKS được cấu thành bởi 3 yếu tố tri thức chuyên môn (Knowledge), Kỹ năng hành nghề (Skills) và thái độ đối với nghề (Attitude). KIẾN THỨC HÀNH VI THÁI ĐỘ KỸ NĂNG NĂNG LỰC Hình 1. Mô hình năng lực AKS (Nguồn: Vũ Việt Hằng, 2014) 10 Đối chiếu với mô hình năng lực AKS, thì năng lực giảng dạy của GV có thể được đánh giá ở các tiêu chí: - Về tri thức chuyên môn: Nắm được kiến thức chuyên sâu về các môn học được phân công giảng dạy và có kiến thức vững vàng của một số môn học có liên quan trong chuyên ngành đào tạo. - Về kỹ năng nghề nghiệp: Có kỹ năng sư phạm giỏi thể hiện thông qua việc tổ chức thành thạo và hiệu quả các hoạt động dạy học ở tất cả các khâu từ việc xây dựng chương trình, xác định mục tiêu và xây dựng đề cương môn học, hoạch định phương hướng tổ chức hoạt động dạy học đến việc thiết kế kịch bản dạy học hiệu quả cho từng chương, từng bài học và cuối cùng là kiểm tra đánh giá năng lực người học.
Có năng lực chế biến tài liệu học tập phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, khả năng phân tích tổng hợp và hệ thống hóa kiến thức. Nắm vững và sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học tiên tiến. - Về thái độ đối với nghề: Có đạo đức nghề nghiệp, tâm huyết với nghề, thẳng thắn, trung thực, tận tụy trong công việc, đánh giá công bằng và đúng thực chất năng lực của người học [19]. Đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên đại học 1.
Tiêu chí đánh giá * Theo nhiều điều tra nghiên cứu của nhiều học giả khác nhau ở Châu Âu và Hoa Kỳ [33] các trường đại học và cao đẳng đánh giá năng lực giảng dạy của GV như sau: - Giảng dạy: giảng dạy trên lớp, biên soạn bài giảng, biên soạn giáo trình - Hướng dẫn SV: tư vấn cho SV về chương trình học, giúp đỡ ngoài giờ lên lớp, hướng dẫn luận văn, luận án. * Trong các nghiên cứu khác của các học giả Braskamp và Ory [23], hai ông đã mở rộng hơn khái niệm về năng lực giảng dạy như sau: 11 - Truyền đạt kiến thức: trong các khóa học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo và hội nghị. Tổ chức một khoa học (lưu trữ những thông tin về SV, kinh nghiệm học tập và kế hoạch). - Tư vấn hướng dẫn SV: Giám sát SV trong các phòng thí nghiệm và các buổi học ngoài trời; Tư vấn cho SV về học thuật, nghề nghiệp và tư vấn riêng; Giám sát sự hỗ trợ giảng dạy; Giám sát SV trong các trải nghiệm thực hành; Tư vấn và giám sát SV trong các đề tài nghiên cứu.
- Thiết kế chương trình học tập: xem xét thiết kế lại các khóa học; Xem xét các chương trình học; Thực hiện theo các tài liệu, sách giáo khoa, phần mềm máy tính; Hướng dẫn các chương trình học từ xa.