Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH nhằm đẩy nhanh kết quả vào thực tế Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động TKĐH nhìn từ góc độ tiếp cận đổi mới Chƣơng 3: Giải pháp đưa nhanh kết quả TKĐH vào thực tế theo tiếp cận đổi mới Kết luận và khuyến nghị 7 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG TKĐH NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO THỰC TẾ 1. Một số khái niệm công cụ 1. Khoa học và công nghệ 1. Khái niệm về khoa học Khái niệm khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau đây (Theo Vũ Cao Đàm, 2007, tr.59): - Khoa học là một hệ thống tri thức: tức là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy.
Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, được xem như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo thông qua các phương pháp của người nghiên cứu để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng; - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: Theo cách tiếp cận này thì khoa học là phương diện tinh thần xã hội mang đối tượng và hình thức phản ánh với chức năng xã hội riêng biệt với các hình thái ý thức xã hội khác; - Khoa học là một thiết chế xã hội: Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện chức năng của một thiết chế xã hội. Khoa học được coi là chuẩn mực trong các hoạt động, trong các lĩnh vực; - Khoa học là một hoạt động xã hội: tức là khoa học đã trở thành một nghề nghiệp mang những đặc trưng riêng của nó như việc đi tìm tòi, sáng tạo, đồng thời cũng chấp nhận gặp nhiều rủi ro. Công nghệ Có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ tuỳ theo góc độ và mục đích nghiên cứu là khác nhau. 8 z Theo quan niệm cũ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi tính chất, hình dạng, trạng thái, của nguyên vật liệu và bán thành phẩm để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Theo quan niệm mới: Công nghệ dùng để chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực có áp dụng kiến thức là kết quả của NCKH ứng dụng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người.
Theo phương diện KH&CN luận thì “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép,…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ” (Trịnh Ngọc Thạch, 2009) Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy. Trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ (công nghệ) thường được dùng thay cho thuật ngữ (kỹ thuật) việc hiểu nội dung công nghệ như vậy đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Khác với khoa học các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp và do đó nó là thứ hàng để mua bán. Hoạt động KH&CN trong công cuộc đổi mới Theo luật Khoa học và công nghệ (2000), hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Trong đó, nghiên cứu khoa học là một mảng quan trọng được định 9 z nghĩa là: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. Hoạt động KH&CN bao gồm: Nghiên cứu và triển khai (R &D) Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ Phát triển công nghệ Dịch vụ KH&CN Theo UNESCO được mô tả lại như sau: FR AR D T TD STS FR Nghiên cứu cơ bản AR Nghiên cứu ứng dụng D Triển khai (Technological Experimental Development) T Chuyển giao tri thức (Bao hồm CGCN) TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development) STS Dịch vụ khoa học và công nghệ 1. Đổi mới Khái niệm đổi mới (Innovation) làm xuất hiện cách tiếp cận mới đối với các hoạt động NC&TK.
Theo đó, các hoạt động NC&TK, nhân lực NC&TK, tổ chức NC&TK không còn được quan niệm là đối tượng riêng biệt và duy nhất cho quản lý và chính sách NC&TK.Thay vào đó là hoạt động đổi mới và hệ thống đổi mới. Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng 10 z đó đến quá trình kinh tế (đổi mới). Có thể thấy, điểm xuất phát của cách tiếp cận mới là nằm trong sự phân biệt giữa đổi mới (Innovation) và phát minh (Invention). Nếu như phát minh là kết quả của các hoạt động R&D, là việc đưa ra và thực hiện một ý tưởng mới, phát hiện ra cái có thể về mặt kỹ thuật, hoặc khoa học thì đổi mới lại là cả một quá trình: "Chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới/hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội".
Carty: "Đổi mới là một quá trình năng động, bao gồm trong đó các hoạt động phát minh khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, đào tạo, đầu tư, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm." Và như tác giả Smail-Ait-El-Hadj đã viết: "Đổi mới là chỗ gặp nhau giữa cái có thể về mặt kỹ thuật với cái có thể về mặt kinh tế - xã hội (KT-XH)". Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng mới trong sản xuất, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới (như sáp nhập), mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo một cách mới hoặc tiến hành một sự kết hợp mới. Lundvall (1992), Elam (1992) cũng có những quan điểm tương tự. Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh tế tri thức mới hoặc sự kết hợp mới của những tri thức đang có.
Điều này có nghĩa là đổi mới được xem xét chủ yếu như là kết quả của qui trình học hỏi có tương tác. Mặc dầu trong nền kinh tế sự tương tác những phần tri thức khác nhau được thực hiện theo các cách mới để tạo ra tri thức mới, hoặc đôi khi là các qui trình, sản phẩm mới. Những tương tác như vậy không chỉ diễn ra trong mối liên quan đến NC&PT mà còn liên quan đến những hoạt động kinh tế thường nhật như việc mua bán, sản xuất và marketing. Sự tương tác xuất hiện trong các doanh nghiệp (giữa các cá nhân hoặc phòng ban khác nhau), giữa các doanh nghiệp với người tiêu 11 z dùng, giữa các doanh nghiệp khác nhau hoặc giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác thậm chí cả cơ quan công quyền.
Tóm lại, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau, khái niệm về đổi mới bao gồm việc đưa ra được sản phẩm/qui trình mới mang lại lợi ích trên thị trường. Với cách hiểu như vậy thì định nghĩa của OECD (2005) có thể xem là khá đầy đủ (NISTPASS, 2005): Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và qui trình mới về công nghệ được thực hiện và cải tiến công nghệ đáng kể trong sản phẩm và qui trình. Một đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong qui trình sản xuất (đổi mới qui trình). Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại.
Tổng hợp lại: Đổi mới là kết quả cuối cùng của hoạt động đổi mới dưới dạng sản phẩm mới, sản phẩm hoàn thiện, quá trình công nghệ mới hoặc được hoàn thiện dịch vụ mới. Hoạt động đổi mới là hoạt động tạo ra, sử dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học nhằm sản xuất sản phẩm và dịch vụ mới thâm dụng tri thức, có sức cạnh tranh trên thị trường đảm bảo phát triển bền vững. Quá trình đổi mới là quá trình có liên quan tới việc tạo ra, nắm vững và phổ cập các đổi mới. Đây có thể là quá trình tuyến tính hoặc phi tuyến theo mô hình công nghệ đẩy hoặc thị trường kéo hoặc cả hai.
Chính sách đổi mới Chính sách đổi mới là tập hợp có hệ thống các chính sách kinh tế-tài chính, chính sách KH&CN, chính sách giáo dục đào tạo, chính sách công nghiệp, chính sách thương mại v.v…nhằm khuyến khích hoạt động đổi mới. Nói như vậy có nghĩa là mục tiêu của chính sách đổi mới là tạo ra các công cụ khuyến khích/ trừng phạt, đối tượng là hoạt động đổi mới trong đó tổ chức (doanh nghiệp) – nhà đổi mới là trung tâm. 12 z Đồng thời, tính hệ thống được hiểu với nghĩa đầy đủ của từ này. Một chính sách không có hệ thống thì không thể là chính sách đổi mới, thậm chí gây đến hiểu như kiểu chính sách “vừa nhấn ga vừa đạp phanh”.
Có thể nói Hệ thống đổi mới quốc gia là “phần cứng” thì chính sách đổi mới là “phần mềm” vận hành phần cứng đó. Để chính sách đổi mới được thực hiện cần có các đảm bảo hành chính- tổ chức, kinh tế - tài chính, đảm bảo thông tin, sở hữu trí tuệ và hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế.