Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành dệt may giữ vai trò xung kích trong chiến lược công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng kim ngạch hàng năm duy trì ở mức 20 - 25%, dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm mũi nhọn, đem lại nguồn thu hàng tỷ USD và giải quyết việc làm cho hơn 2 triệu lao động (trong đó 80% là lao động nữ, chiếm 22,7% tổng lực lượng lao động công nghiệp toàn quốc). Bước vào giai đoạn 2003 - 2008, thương mại quốc tế chứng kiến nhiều biến động sâu sắc: Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) phát huy hiệu lực, cơ chế hạn ngạch dệt may trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chấm dứt vào năm 2005, và Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2007. Trong bối cảnh đó, ngành dệt may Việt Nam vừa đứng trước thời cơ thâm nhập sâu vào các thị trường tiêu thụ hàng đầu thế giới, vừa đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc, Ấn Độ, rào cản kỹ thuật khắt khe, cùng tình trạng phụ thuộc nặng nề vào mô hình gia công xuất khẩu. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hồng Nhung (chuyên ngành Kinh tế Đối ngoại, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội) được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng này và xác định các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường dệt may, bản chất hoạt động xuất khẩu và vai trò của ngành may mặc trong nền kinh tế quốc dân cũng như thương mại quốc tế.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng năng lực sản xuất, cơ cấu công nghệ, nguồn lao động, hoạt động xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2008 tại các thị trường trọng điểm (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản).
  3. Đánh giá những thành tựu đạt được cùng các điểm yếu cốt lõi của ngành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may trong những năm tiếp theo, hướng đến mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 5 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam và các nhân tố chi phối quá trình sản xuất, kinh doanh xuất khẩu của ngành.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung vào hệ thống doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam và các thị trường nhập khẩu lớn bao gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản, có đối chiếu với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tế trong giai đoạn 5 năm từ năm 2003 đến năm 2008; các định hướng, quy hoạch phát triển được xem xét đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết và khái niệm, khóa luận tiếp cận hoạt động thương mại quốc tế trên cơ sở lý luận kinh tế đối ngoại và các căn cứ pháp lý hiện hành:

  • Khái niệm xuất khẩu hàng hóa: Tiếp cận theo lý luận thương mại quốc tế (bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài), cách tính cán cân thanh toán quốc tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và quy định tại Điều 28, Mục 1, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (hàng hóa đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực hải quan riêng).
  • Khái niệm và phân loại gia công xuất khẩu: Xác định bản chất gia công là quá trình tạo thêm giá trị thặng dư nhưng không làm thay đổi đặc tính vật lý, hóa học cơ bản của sản phẩm, bao gồm hai hình thức: (1) bên thuê gia công cung cấp toàn bộ nguyên phụ liệu, mẫu mã và trả tiền công; (2) bên nhận gia công bao tiêu nguyên vật liệu theo mẫu mã chỉ định và bán lại thành phẩm theo đơn giá thỏa thuận.
  • Khung điều tiết thương mại quốc tế: Hiệp định Dệt May (ATC) của WTO về việc bãi bỏ hạn ngạch thương mại từ ngày 01/01/2005; Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000; Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU năm 1992 và thỏa thuận dỡ bỏ hạn ngạch ngày 01/01/2005; cơ chế thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) và tối huệ quốc (MFN); các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế bao gồm ISO 9000, ISO 14000, SA 8000, tiêu chuẩn HACCP và dấu hợp chuẩn CE.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu kinh tế ứng dụng truyền thống:

  • Phương pháp đọc và xử lý tài liệu: Rà soát các văn bản pháp quy, nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 253/TTg năm 1995 thành lập Tổng công ty Dệt May Việt Nam), các hiệp định thương mại quốc tế.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, phân nhóm và xây dựng hệ thống bảng biểu định lượng về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu, phân bố vốn đầu tư nước ngoài, cơ cấu giá thành sản phẩm gia công.
  • Phương pháp phân tích kinh doanh: So sánh chi phí sản xuất, cơ cấu giá thành FOB (Free On Board) và gia công CMT (Cut - Make - Trim), phân tích năng lực máy móc thiết bị và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Phương pháp dự báo kinh tế: Sử dụng dự báo chuỗi thời gian của các tổ chức quốc tế để ước lượng triển vọng nhu cầu dệt may toàn cầu giai đoạn 2005 - 2020.

Nguồn dữ liệu của đề tài hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp có nguồn gốc rõ ràng, bao gồm:

  • Niên giám và báo cáo thống kê của các tổ chức quốc tế: WTO, GATT (GATT Publication International Trade), Hiệp hội Dệt may Đông Nam Á (ASEAN Textile), Hiệp hội Dệt may Thế giới.
  • Dữ liệu cơ quan quản lý và hiệp hội ngành nghề trong nước: Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS/Vista), Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex), Tổng công ty Dâu tằm tơ Việt Nam (Viseri).
  • Báo chí và tạp chí chuyên ngành kinh tế: Tạp chí Chiến lược chính sách công nghiệp, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Báo Đầu tư, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát về thị trường dệt may và xuất khẩu dệt may

Chương I tái hiện lịch sử phát triển của ngành dệt may nhân loại từ thời kỳ nguyên thủy dùng sợi lanh, len ở Lưỡng Hà, sợi bông ven sông Indus và tơ tằm Trung Quốc (năm 2640 trước Công nguyên dưới thời vua Phục Hy), qua bước ngoặt của cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ 18 với máy dệt hơi nước tại Anh, đến phát minh sợi nhân tạo năm 1884 của Bá tước Hilaire Bernigaud de Chardonnet. Sản lượng sợi hóa học thế giới tăng từ dưới 1.000 tấn năm 1900 lên 26 triệu tấn năm 1975 (chiếm 44% tổng lượng sợi tiêu thụ toàn cầu), và sợi hóa học hiện chiếm tỷ trọng khoảng 60%.

Năm Kim ngạch hàng dệt (tỷ USD) Kim ngạch hàng may (tỷ USD) Tổng nhập khẩu thế giới (tỷ USD)
1990 105,040 108,370 -
1995 150,340 157,180 -
2000 187,000 192,000 363,493
2001 190,000 210,000 348,235
2002 152,000 201,000 362,930
2005 - 231,050 409,390
2007 - 282,020 454,640

Thương mại dệt may toàn cầu bị chi phối bởi ba cực: Tây Âu, châu Á và Bắc Mỹ. Năm 2002, giao dịch nội bộ châu Á đạt 38 tỷ USD đối với vải sợi; nội bộ Tây Âu đạt 45,6 tỷ USD đối với hàng may mặc. Về xuất khẩu may mặc, châu Á dẫn đầu với 45% thị phần, Tây Âu chiếm 30%, trong khi Bắc Mỹ là khu vực nhập khẩu ròng lớn nhất (chiếm 31% nhập khẩu toàn cầu nhưng chỉ xuất khẩu 5%). Dự báo của Hiệp hội Dệt may Thế giới cho thấy nhu cầu hàng dệt toàn cầu tăng từ 52,74 triệu tấn (bình quân 7,1 kg/người) năm 2005 lên 70,00 triệu tấn (bình quân 9,2 kg/người) vào năm 2020. Các đối thủ xuất khẩu lớn gồm Trung Quốc (lợi thế giá rẻ, chuỗi cung ứng khép kín), Ấn Độ (đầu tư 700 triệu USD năm 2003 - 2004 mua sắm máy móc), nhóm nước Caribê - Mexico (hưởng lợi thế vị trí gần Mỹ và quy chế GSP), và khối ASEAN (Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan).

Tại Việt Nam, ngành hình thành từ năm 1897 với sự ra đời của Khu liên hợp dệt Nam Định. Sau năm 1975, Nhà nước tiếp quản các nhà máy phía Nam (Phong Phú, Thành Công, Thắng Lợi, Việt Tiến, Nhà Bè) và lập các tổng công ty xuất nhập khẩu (TEXTIMEX, CONFECTIMEX). Giai đoạn 1976 - 1986, Việt Nam gia công xuất khẩu sang khối Comecon (Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc, Đông Đức), nhưng khủng hoảng kinh tế với lạm phát 775% năm 1986 đã làm đình đốn sản xuất. Sau Đổi mới 1986, hiệp định gia công dài hạn 19/5 với Liên Xô tạo đà phục hồi. Liên Xô sụp đổ năm 1991 đẩy ngành vào khủng hoảng nặng nề, buộc Việt Nam chuyển hướng sang EU (ký hiệp định dệt may năm 1992), bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (1995), gia nhập ASEAN (1995) và ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ năm 2000.

Ở thị trường trong nước (quy mô trên 80 triệu dân, nhu cầu 9 - 10 m vải/người/năm), hệ thống siêu thị Vinatex Mart sở hữu 60 siêu thị tại 20 tỉnh thành, doanh thu hơn 1.000 tỷ đồng/năm. Tổng công ty may Việt Tiến phát triển mạng lưới 2.000 cửa hàng, đạt doanh thu nội địa 500 tỷ đồng năm 2008. Tuy nhiên, hàng dệt may nội địa mới chỉ chiếm khoảng 30% thị phần trong nước. Trên thị trường xuất khẩu, hình thức gia công vẫn chiếm khoảng 70%, sản phẩm chủ yếu mang thương hiệu nước ngoài.

Chương II: Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây (2003- 2008)

Chương II đi sâu giải phẫu cấu trúc nội tại và kết quả xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam thông qua các số liệu thống kê chi tiết:

Tiêu chí phân loại Cơ cấu doanh nghiệp (Năm 2008 - Tổng số > 2.000 DN) Tỷ lệ (%)
Theo hình thức sở hữu Doanh nghiệp Nhà nước: 10 DN
Doanh nghiệp TNHH và Cổ phần: 1.490 DN
Doanh nghiệp FDI: 500 DN
0,5%
74,5%
25,0%
Theo vùng địa lý Miền Bắc: 300 DN
Miền Trung: 150 DN
Miền Nam: 1.550 DN
15,0%
7,5%
77,5%
Theo phân ngành sản xuất Doanh nghiệp May: 1.360 DN
Doanh nghiệp Dệt và May: 600 DN
Doanh nghiệp Kéo sợi: 40 DN
68,0%
30,0%
2,0%

Về năng lực công nghệ và thiết bị năm 2007:

  • Khâu kéo sợi: Có 1.000 cọc sợi và 15.000 sợi không cọc OE, sản lượng 150.000 tấn sợi/năm; tuy nhiên trên 60% là cọc sợi chải thô, chỉ 26 - 30% là cọc sợi chải kỹ. Khâu cán bông có 4 dây chuyền đạt 10.000 tấn/năm.
  • Khâu dệt: Có 5.500 máy dệt không thoi (sản xuất 500 triệu mét vải dệt thoi), 1.290 máy dệt kim tròn và 250 máy dệt kim phẳng (sản lượng 70.000 tấn vải dệt kim). Phần lớn thiết bị dệt đã cũ, thiếu đồng bộ với khâu may.
  • Khâu nhuộm và hoàn tất: 100% thiết bị nhập ngoại, trong đó chỉ 35% nhập sau năm 1986 (hệ máy A2, A3), còn lại là máy cũ từ thập niên 1960 tiêu hao nhiều điện năng và hóa chất.
  • Khâu may: Đạt mức hiện đại hóa cao nhất với 60% thiết bị đổi mới, tổng số khoảng 200.000 máy may (nhiều máy chuyên dùng hiện đại của Juki, FFAP), công suất đạt 500 triệu sản phẩm/năm.
  • Tính chung toàn ngành, chỉ có khoảng 45% thiết bị đạt mức độ trung bình của khu vực.

Về nguyên phụ liệu, ngành may đối mặt tình trạng mất cân đối trầm trọng: phải nhập khẩu 50% nguyên liệu may, 80% bông (nội địa chỉ sản xuất 3.400 tấn sợi cotton/năm, đáp ứng 5% nhu cầu), 100% sợi tổng hợp và chất liệu nhuộm, 80% thuốc hóa học. Diện tích dâu tằm đạt 25.000 ha (đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc) nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu 200 tấn tơ sống từ Trung Quốc.

Về nhân lực và chi phí sản xuất: Toàn ngành chỉ có 4 trường đào tạo với công suất 2.000 công nhân/năm, buộc các doanh nghiệp (như May Hưng Yên, VIT Garment, Kyung Việt) phải tự tuyển dụng lao động phổ thông và kèm cặp nghề trong 3 tháng. Lương bình quân tại Vinatex đạt 1.000.000 đồng/người/tháng. Đơn giá xuất khẩu mặt hàng CAT.338/339 của Việt Nam dao động 5,79 - 8,2 USD/m2, cao hơn 5 - 10% so với Bangladesh (4,66 - 4,88 USD/m2) và Trung Quốc (4,68 - 5,84 USD/m2) do năng suất thấp và chi phí logistics cao.

Bộ phận cấu thành giá Hàng đơn giản (Nguyên liệu nội) Hàng cao cấp (Nguyên liệu ngoại)
Chi phí nguyên liệu 40 - 50% 60 - 70%
Chi phí nhân công lao động 20 - 30% 5 - 10%
Chi phí quản lý doanh nghiệp 20% 10%
Khấu hao tài sản cố định & tư liệu sản xuất 4 - 6,5% 8 - 13%
Chi phí sản xuất khác 10% 10%

Về thu hút FDI: Toàn ngành thu hút 534 dự án từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký 3,215 tỷ USD (378 dự án may, 110 dự án dệt, 46 dự án phụ liệu). Đài Loan dẫn đầu với 1,690 tỷ USD (156 dự án), Hàn Quốc đứng thứ hai với 1,003 tỷ USD (117 dự án). Một số dự án tiêu biểu: Pamatex Berhad (Malaysia) đầu tư hơn 100 triệu USD tại Chu Lai; Daewon (Hàn Quốc) đầu tư 8 triệu USD tại Hòa Khánh (Đà Nẵng); Intergarment (Đài Loan) xây dựng nhà máy Sportteam vốn 2 triệu USD tại KCN Thuận Yến (Tam Kỳ) với 22 chuyền may, công suất 20 triệu sản phẩm/năm.

Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (tỷ USD) 3,6 4,3 4,1 5,9 7,8 9,1
Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ (tỷ USD) 1,975 2,240 2,450 3,152 4,292 5,500

Tại các thị trường chủ chốt:

  • Thị trường Hoa Kỳ: Từ mức 9,1 triệu USD năm 1996 và 44,6 triệu USD năm 2001, kim ngạch tăng vọt lên 975 triệu USD năm 2002 sau khi có BTA. Đến năm 2008, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 5,5 tỷ USD, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch toàn ngành. Năm 2003, Hoa Kỳ áp đặt hạn ngạch đối với 25 nhóm hàng và 38 mặt hàng (CAT 338/339 dệt kim cotton là 14.000 tá; CAT 347/348 quần bông là 7.000 tá; CAT 341/641 sơ mi dệt thoi là 762.698 tá; CAT 342/642 váy ngắn là 554.654 tá), gây hiện tượng "khê quota" do doanh nghiệp ký kết hợp đồng ồ ạt vượt quá hạn ngạch được cấp.
  • Thị trường EU: Sau khi EU bãi bỏ hạn ngạch ngày 01/01/2005, kim ngạch xuất khẩu tăng từ 1,2 tỷ USD (2006) lên 1,43 tỷ USD (2007) và 1,8 tỷ USD (2008). Yêu cầu khắt khe về ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 được các doanh nghiệp đáp ứng tích cực (công ty Hanoisimex giảm tỷ lệ hàng lỗi bị trả lại tại EU xuống 0,8% năm 2007).
  • Thị trường Nhật Bản: Chiếm thị phần khiêm tốn (3,2 - 3,6%), chịu sự chi phối áp đảo từ hàng Trung Quốc (chiếm 90% thị phần nhập khẩu của Nhật Bản).

Đánh giá tổng quát: Ngành vươn lên vị trí số 1 về kim ngạch xuất khẩu cả nước, mở rộng thị phần tại các nước phát triển. Tuy nhiên, điểm yếu cốt lõi là tỷ trọng gia công xuất khẩu quá lớn (70 - 80%), xuất khẩu FOB chỉ chiếm 20 - 30% và chủ yếu là "FOB sơ khai" (nhà nhập khẩu chỉ định nguồn mua nguyên liệu, doanh nghiệp may chỉ hưởng 5 - 10% giá trị gia tăng). Giá trị thực thu của ngành dệt may Việt Nam chỉ đạt khoảng 35% kim ngạch danh nghĩa.

Chương III: Giải pháp thúc đẩy hàng dệt may Việt Nam trong những năm tới

Dựa trên Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành đến năm 2010 ước tính khoảng 3 tỷ USD (gồm 180 triệu USD phát triển nguyên liệu, 2,275 tỷ USD cho dệt nhuộm, 443 triệu USD cho ngành may, và 200 triệu USD cho đào tạo, R&D). Mục tiêu nông nghiệp đặt ra là mở rộng diện tích trồng bông lên 150.000 ha vào năm 2010 nhằm giảm thiểu rủi ro nhập khẩu. Tác giả xây dựng hai nhóm giải pháp:

Nhóm giải pháp vĩ mô:

  • Chính sách vốn và tài chính - tiền tệ: Nhà nước cần cơ chế bảo lãnh tín dụng dài hạn (10 - 12 năm) để doanh nghiệp đổi mới thiết bị dệt nhuộm; kiểm soát linh hoạt tỷ giá USD/VND nhằm hạn chế thiệt hại chênh lệch tỷ giá cho các doanh nghiệp vay ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu và máy móc; hỗ trợ vốn ngân sách ổn định (từ 3 - 5 năm) cho các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.
  • Đẩy mạnh cải cách hành chính: Rút gọn thủ tục hải quan, kiểm tra chuyên ngành xuất nhập khẩu, xóa bỏ cơ chế xin - cho trong phân bổ hạn ngạch và cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O).

Nhóm giải pháp vi mô:

  • Đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử qua Internet để tiếp cận trực tiếp nhà mua hàng quốc tế, giảm bớt chi phí trung gian thương mại.
  • Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Kết hợp giữa nhà nước và doanh nghiệp mở rộng quy mô các trường đào tạo nghề may, tập trung đào tạo đội ngũ thiết kế mẫu mốt thời trang và cán bộ quản lý chuỗi cung ứng thay vì chỉ đào tạo công nhân may giản đơn.
  • Chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế: Phổ cập áp dụng ISO 9000, ISO 14000, tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 và tiêu chuẩn WRAP nhằm vượt qua các rào cản phi thuế quan tại Mỹ và EU.
  • Nghiên cứu và nắm vững luật pháp quốc tế: Nâng cao năng lực pháp lý để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá, chương trình giám sát hàng dệt may của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.
  • Ổn định và nội địa hóa nguồn nguyên phụ liệu: Đầu tư liên kết giữa các đơn vị dệt may với vùng nguyên liệu bông, tơ tằm; chuyển dần từ mô hình gia công thuần túy (CMT) sang sản xuất mua đứt bán đoạn (FOB đích thực) và tiến tới tự thiết kế sản xuất (OBM).

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008 thông qua hệ thống dữ liệu thực tế:

  • Phản ánh trung thực bước nhảy vọt về kim ngạch xuất khẩu từ 3,6 tỷ USD (2003) lên 9,1 tỷ USD (2008), trong đó thị trường Hoa Kỳ đóng vai trò động lực tăng trưởng chính (đạt 5,5 tỷ USD năm 2008).
  • Làm rõ cấu trúc phân bổ nguồn lực: 77,5% doanh nghiệp may tập trung tại miền Nam, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và FDI chiếm 99,5% số lượng cơ sở sản xuất.
  • Bóc tách bản chất kinh tế của chuỗi giá trị: Chi phí nguyên phụ liệu ngoại nhập chiếm tới 60 - 70% giá thành hàng may xuất khẩu cao cấp, trong khi giá trị lao động thuần túy của Việt Nam chỉ đóng góp 5 - 10%. Đơn giá xuất khẩu một số chủng loại nhạy cảm (CAT.338/339) cao hơn đối thủ cạnh tranh từ 5% đến 10%.

Về đóng góp thực tiễn, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn mang tính cơ cấu: ngành dệt may Việt Nam thực chất chỉ chiếm khoảng 1% thương mại dệt may toàn cầu và 30% thị phần trong nước; mô hình FOB phần lớn mới dừng ở mức "FOB sơ khai". Trên cơ sở quy hoạch ngành đến năm 2015 và 2020, công trình đã đề xuất khung giải pháp mang tính đồng bộ từ cấp chính sách vĩ mô (tín dụng dài hạn, xúc tiến thương mại đa niên) đến cấp tác nghiệp vi mô (chuyển đổi phương thức may, kiểm soát chất lượng theo ISO/SA, tự chủ đào tạo nhân lực), đóng góp căn cứ tham khảo thiết thực cho quá trình tái cơ cấu ngành dệt may sau khi gia nhập WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu và điều kiện tiếp cận tư liệu:

  • Phương pháp phân tích chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ và tổng hợp số liệu thứ cấp; chưa ứng dụng các mô hình định lượng kinh tế lượng (như mô hình hấp dẫn Gravity Model hoặc hồi quy đa biến) để đo lường mức độ tác động của từng yếu tố thuế quan, tỷ giá và tiền lương danh nghĩa đến kim ngạch xuất khẩu.
  • Chuỗi số liệu phân tích kết thúc vào năm 2008 - thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu bùng nổ, do đó chưa phản ánh đầy đủ tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới giai đoạn 2008 - 2009 đến đơn hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đánh giá tác động của chương trình giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam do Bộ Thương mại Hoa Kỳ áp dụng; khảo sát hiệu quả thực tế của các dự án đầu tư dệt - nhuộm nhằm tháo gỡ quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; và phân tích mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân trồng bông với các nhà máy kéo sợi trong nước.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hồng Nhung là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học các ngành Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh quốc tế và Quản trị chuỗi cung ứng: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng phong phú về phương thức phân tích một ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn trong giai đoạn chuyển dịch thể chế thương mại quốc tế (từ cơ chế hạn ngạch sang tự do hóa thương mại hoàn toàn).
  • Các nhà quản lý doanh nghiệp dệt may: Tham khảo chi tiết bảng cơ cấu giá thành sản phẩm gia công (Bảng 6), định mức tiêu hao nguyên liệu, yêu cầu hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật (ISO 9000, ISO 14000, SA 8000) để xây dựng phương án chuyển dịch từ gia công cắt may thuần túy sang xuất khẩu FOB.
  • Các chuyên viên nghiên cứu chính sách thương mại và hiệp hội ngành hàng (VITAS): Đánh giá bài học lịch sử về quản trị hạn ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ năm 2003 và hiện tượng "khê quota", phục vụ công tác dự báo rủi ro phòng vệ thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu sở hữu và phân bố vùng miền của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam năm 2008 diễn ra như thế nào?
Theo dữ liệu công bố tại khóa luận (Bảng 4), toàn ngành có trên 2.000 doanh nghiệp. Xét theo hình thức vốn sở hữu: doanh nghiệp TNHH và cổ phần chiếm đa số tuyệt đối với 74,5% (1.490 doanh nghiệp), doanh nghiệp FDI chiếm 25% (500 doanh nghiệp), doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn chiếm 0,5% (10 doanh nghiệp). Xét theo địa bàn: miền Nam tập trung tới 77,5% (1.550 doanh nghiệp), miền Bắc chiếm 15% (300 doanh nghiệp) và miền Trung chiếm 7,5% (150 doanh nghiệp). Về phân ngành, doanh nghiệp may chiếm 68%, doanh nghiệp dệt và may chiếm 30%, doanh nghiệp kéo sợi chỉ chiếm 2%.

2. Thực trạng phụ thuộc nguyên phụ liệu của ngành may mặc Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu nghiêm trọng ở mức độ nào?
Ngành may phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung bên ngoài: 50% nguyên liệu ngành may và 80% bông xơ phải nhập khẩu. Trong nước chỉ sản xuất được 3.400 tấn sợi cotton/năm, đáp ứng vẻn vẹn 5% nhu cầu nội địa. Toàn bộ sợi tổng hợp, 100% chất liệu nhuộm và khoảng 80% hóa chất phụ trợ đều phải nhập khẩu. Ngay cả tơ tằm là nghề truyền thống với 25.000 ha dâu, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 200 tấn tơ sống/năm từ Trung Quốc để se tơ, dệt lụa.

3. Bản chất của phương thức xuất khẩu "FOB sơ khai" mà đa số doanh nghiệp dệt may Việt Nam thực hiện là gì?
Theo phân tích của tác giả, xuất khẩu FOB của Việt Nam chỉ chiếm 20 - 30% kim ngạch nhưng phần lớn là "FOB sơ khai". Ở phương thức này, doanh nghiệp Việt Nam không tự thiết kế hay chủ động chọn nguồn nguyên liệu mà bị nhà nhập khẩu nước ngoài chỉ định nơi mua nguyên phụ liệu và may theo mẫu có sẵn. Doanh nghiệp chỉ được hưởng 5 - 10% trên tổng giá trị sản phẩm, nhưng lại phải ứng vốn mua nguyên liệu trước và tự gánh chịu toàn bộ rủi ro về chất lượng hay sự chậm trễ của nhà cung cấp phụ liệu.

4. Đối tác nào dẫn đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may Việt Nam tính đến năm 2008?
Theo Bảng 7 của khóa luận, Đài Loan dẫn đầu toàn diện về giá trị vốn đầu tư với 1,690 tỷ USD vốn đăng ký qua 156 dự án (gồm 45 dự án dệt, 93 dự án may, 18 dự án phụ liệu). Hàn Quốc đứng thứ hai với 1,003 tỷ USD vốn đăng ký qua 117 dự án (40 dự án dệt, 122 dự án may, 15 dự án phụ liệu). Cả hai đối tác này chiếm hơn 83% tổng vốn FDI đăng ký vào ngành dệt may Việt Nam (3,215 tỷ USD).

5. Vì sao đơn giá gia công xuất khẩu của dệt may Việt Nam lại cao hơn các đối thủ như Trung Quốc, Ấn Độ hay Bangladesh?
Dữ liệu từ Bộ Công Thương được dẫn trong khóa luận cho thấy đơn giá chủng loại CAT.338/339 của Việt Nam đạt 5,79 - 8,2 USD/m2, cao hơn 5 - 10% so với đối thủ. Nguyên nhân chính là do Việt Nam không tự chủ được nguồn nguyên phụ liệu nội địa (phải nhập khẩu với chi phí vận chuyển cao), năng suất lao động bình quân của công nhân may còn thấp do thiếu trường lớp đào tạo bài bản, và chi phí logistics, vận chuyển trong nước cũng như quốc tế còn ở mức cao.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Hồng Nhung đã phác thảo bức tranh chân thực, khách quan và giàu dữ liệu thực chứng về thực trạng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008. Công trình đã phân tích thấu đáo vị thế dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu của ngành trong mối tương quan với các điểm nghẽn cố hữu về sự mất cân đối công nghệ dệt - may, sự lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và mô hình gia công giá trị thấp. Các kiến nghị vĩ mô và vi mô được đề xuất trong công trình là hệ thống giải pháp có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho chiến lược phát triển dệt may Việt Nam theo hướng bền vững và tự chủ chuỗi giá trị.