phần mở đầu và kết luận cùng tài liệu tham khảo : Chƣơng 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch biển, đảo và bảo vệ môi trƣờng trong du lịch. Thực trạng hoạt động du lịch và công tác bảo vệ môi trƣờng ở Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Đề xuất và giải pháp bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động du lịch ở Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh.
2 Chƣơng 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DU LỊCH BIỂN, ĐẢO VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN TRONG DU LỊCH 1. Khái niệm – Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định. – Tài nguyên du lịch: là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. – Khách du lịch: là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
– Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ƣu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trƣờng. – Điểm du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. – Du lịch bền vững: là sự phát triển du lịch đáp ứng đƣợc các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tƣơng lai. – Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
– Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 3 truyền thống. – Môi trường du lịch: là môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch. – Chất lượng dịch vụ: là một khái niệm trừu tƣợng, khó nắm bắt bởi các đặc tính riêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lƣợng đƣợc tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thƣờng xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp. – Chất lượng dịch vụ du lịch: là mức phù hợp của dịch vụ của các nhà cung ứng du lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch thuộc thị trƣờng mục tiêu.
Du lịch biển, đảo 1. Khái niệm Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch sinh thái dựa vào thiên nhiên nhƣ các bãi biển, đảo để tắm biển, vui chơi. kết hợp với văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trƣờng, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững cộng đồng địa phƣơng [1,tr.4] Cũng giống nhƣ các loại hình du lịch khác, du lịch biển đảo thuộc ngành dịch vụ giúp du khách thƣ giãn, xả stress và học hỏi nhiều điều mới lạ, hấp dẫn. Du lịch biển, đảo cũng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động và phát triển kinh tế đất nƣớc.
Tuy nhiên, du lịch biển đảo cũng có một số đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với các loại hình du lịch khác. Du lịch biển đảo đƣợc xây dựng và phát triển dựa trên sự phát triển của các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ vùng ven biển, nƣớc biển và cát biển. Hoạt động du lịch biển thƣờng gắn với các hoạt động vui chơi, tắm biển, nghỉ dƣỡng, thƣ giãn, thể dục, thể thao. Du lịch biển đảo là loại hình du lịch sinh thái, do đó chịu nhiều gánh nặng về khí hậu, thủy triều, v.
4 cũng mang tính chất theo mùa, vì chúng có tác động lớn đến những thay đổi của tự nhiên cho nên đây cũng là một hạn chế lớn. Một số quốc gia có những bãi biển và bãi cát rất đẹp thích hợp cho du lịch biển, nhƣng khí hậu lạnh nên khó có thể tận dụng tối đa đƣợc hết tài nguyên. Ngƣợc lại, một số quốc gia có khí hậu nóng nhƣng lại thiếu bờ biển êm đềm, cát xấu và sóng mạnh gây khó khăn cho việc cải thiện và khai thác du lịch biển. Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm theo mùa nên du lịch biển đảo thƣờng chỉ đƣợc sử dụng vào mùa nóng.
Ở Hạ Long cũng không ngoại lệ, vào mùa đông du lịch bị hạn chế bởi cái lạnh. Tóm lại, du lịch biển chịu tác động mạnh mẽ của thiên nhiên và khí hậu. Các đại dƣơng và hải đảo cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố tiềm năng để tận dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình du lịch. Từ tài nguyên bãi biển đến tài nguyên trên bề mặt biển, tài nguyên đáy biển, rạn san hô, và nhiều loại hải sản… một hệ sinh thái mà ít ngƣời đƣợc tận mắt chứng kiến.
Nếu bạn biết cách sử dụng nó, thế giới sẽ mở ra. Nó khơi dậy sự tò mò và tạo ra nhu cầu rất lớn cho khách du lịch Một bất lợi của du lịch biển đảo là cải tạo hạ tầng khó, và thƣờng chi phí để bỏ ra cải tạo cao hơn các ngành du lịch khách rất nhiều lần .Ví dụ nhƣ cải tạo bãi biển, bảo tồn và nuôi trồng các khu san hô…đòi hỏi phải có kỹ thuật tiên tiến cùng với chi phí bỏ ra rất cao. Các loại hình du lịch biển, đảo Có nhiều loại hình du lịch biển đảo khác nhau, tùy theo điều kiện tự nhiên của từng vùng mà có chính sách phát triển khác nhau. Dƣới đây là một số loại hình và sản phẩm du lịch chính.
Du lịch tắm biển, nghĩ dưỡng là phổ biến nhất, bằng lợi thế tận dụng bầu không khí trong lành, khí hậu dễ chịu sẽ khiến cho du khách cảm thấy thƣ giãn và phục hồi sức khoẻ sau một thời gian dài căng thẳng với áp lực công việc. 5 Du lịch biển kết hợp với văn hóa ẩm thực và mua sắm là loại hình du lịch biển kết hợp với những món ăn đặc sản mới lạ, bổ dƣỡng, kết hợp với cách chế biến món ăn độc đáo để du khách thƣởng thức. Du lịch biển kết hợp di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hóa, thăm quan phong tục tập quán bản địa là hình thức du lịch dành cho những du khách yêu văn hóa, có nhiều thời gian tham quan, khám phá các địa điểm khảo cổ, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, miền núi, hải đảo hoang sơ. Du lịch mạo hiểm, khám phá và trải nghiệm : Loại hình du lịch này ngày càng trở nên phổ biến và đƣợc giới trẻ quan tâm.
Các loại hình phiêu lƣu mạo hiểm nhƣ chinh phục thiên nhiên, lặn biển, chèo thuyền, lƣớt ván, nhảy dù…. Tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo ở Việt Nam Việt Nam có đƣờng bờ biển dài hơn 3000 km, hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, những bãi cát trắng, nƣớc biển trong xanh nằm dọc theo bờ biển Việt Nam, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch vùng biển có nhiều tiềm năng. Đây là điều thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển Việt Nam. Ngoài giá trị về thiên nhiên, yếu tố nhân văn truyền thống giàu bản sắc của nhiều dân tộc: vùng ven biển nhƣ Kin, Hoa, Khmer, Chăm cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển du lịch biển.
Nhiều vùng ven biển và hải đảo nhƣ Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam có đủ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn để tạo nên sức hấp dẫn lớn. Lịch sử kiến tạo địa chất nhiều thế kỷ đã hình thành nên bộ mặt đất nƣớc ta với nhiều đƣờng nét độc lập và không đơn hình: núi non và núi già, đất và núi đá, cao nguyên và đồng bằng cũ, đồng bằng phù sa mới, đứt gãy và hang động, thềm lục địa và hải đảo. Đặc biệt địa hình Việt Nam là một nguồn tài nguyên quý giá. Địa hình đá vôi kéo dài ngoài vĩ tuyến 160 và có nhiều hệ thống hang động nhƣ Phong Nha Kẻ Bàng, hang Sơn Đoòng,.
6 Điều đặc biệt ở Vịnh Hạ Long là vùng núi đặc trƣng và các hang động ngập nƣớc nhiệt đới, giá trị của nó góp phần vào danh sách Di sản Thiên nhiên Thế giới của địa điểm. Với 3/4 diện tích là đồi núi và cảnh quan là bờ sông, Nhật Bản nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu ổn định, nhiệt độ chênh lệch giữa ban ngày và mùa không lớn, khả năng tham quan cao, thích hợp. cho khách du lịch. Rất phổ biến.
Đặc biệt với du khách xứ lạnh hay du khách đến Việt Nam để tránh lạnh, du khách xứ nóng sẽ tìm đến những “phòng lạnh dễ chịu tự nhiên” nhƣ Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo. Việt Nam là quốc gia giữ vị trí thứ 27 trong tổng số 106 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, trong đó gần nhƣ là các bãi tắm đƣợc đánh giá có phong cảnh đẹp và thuận lợi cho việc khai thác du lịch … [1,tr.41] Bên cạnh những tiềm năng hiện có, du lịch Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để thu hút khách nƣớc ngoài. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia có các điều kiện về chính trị và an ninh xã hội đƣợc đảm bảo. Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã thu hút đƣợc nhiều lƣợt khách du lịch trong và ngoài nƣớc và đóng góp quan trọng vào cơ cấu thu nhập quốc dân.
Trong khi đó, ngành du lịch đang cố gắng tạo điều kiện để ngày càng nhiều du khách đến khám phá các điểm du lịch của Việt Nam, bên cạnh nỗ lực xây dựng nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn hơn. Bảo vệ môi trƣờng tự nhiên trong du lịch 1. Một số khái niệm Luật Bảo vệ Môi trƣờng (2005) đã đƣa ra khái niệm môi trƣờng, theo đó: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”(Điều 3). Theo khái niệm này, môi trƣờng đƣợc hiểu là sự tổng hòa của các thành phần tự nhiên.