CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH TÂM LINH 1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến du lịch tâm linh 1. Một số khái niệm 1. Các khái niệm liên quan đến du lịch a.
Du lịch Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO: International Union of Official Travel Oragnization): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống… Tại Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa Canada diễn ra vào tháng 6/1991, định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2009). Một định nghĩa khác của Michael Coltman (Mỹ): Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2009). Dưới góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Dưới góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Theo Điều 3, Luật du lịch Việt Nam năm 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải 4 trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” Tóm lại, chúng ta có thể hiểu rằng du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ nhiều thành phần tham gia. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. Khách du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2017: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp với đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Theo đó, với những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ dưới 24 giờ cũng được coi là khách du lịch.
Theo điều 10, chương II, Luật du lịch 2017 khách du lịch được phân thành khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. “Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. “Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Sản phẩm du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”. Theo nghĩa rộng, sản phẩm du lịch có thể hiểu là tất cả các hàng hóa và các dịch vụ mà khách du lịch tiêu dùng cho chuyến đi của họ. Theo nghĩa hẹp, sản phẩm du lịch là các hàng hóa và dịch vụ mà khách mua lẻ hoặc trọn gói, do các doanh nghiệp du lịch tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Điểm du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch”.
Khái niệm liên quan đến du lịch tâm linh a. Tâm linh Trong sách “Tâm linh Việt Nam”, Nguyễn Duy Hinh quan niệm: “Tâm linh là 5 thí nghiệm của của con người (tâm) về cái Thiêng (linh) trong tự nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức logic không phân biệt thiện ác”. [3] Theo Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Văn hóa tâm linh”: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng”, tức là có hai yếu tố quan trọng nhất là đức tin và sự linh thiêng. Tâm linh hiện diện ở ranh giới giữa cơ thể là hữu hạn và cái khao khát, mong muốn là vô hạn.
Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm. [3] Như vậy, có thể nói tâm linh là cái tồn tại trong mỗi con người. Nó thể hiện qua niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh thiêng liêng. Văn hóa tâm linh Văn hóa tâm linh xuất hiện từ khá sớm, nó hình thành từ đời sống thực tế của con người xa xưa, từ các tập tục, thói quen đến các nghi lễ tôn giáo và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người.
[3] Trong cuốn Nguyễn Đức Cần – nhà văn hóa tâm linh có viết: “Văn hóa tâm linh là một nền văn hóa đặc biệt, nó đặc biệt ở chỗ trong nó chứa đựng bao nhiêu điều kì bí và cao cả mà con người muốn tìm hiểu khám phá. Có thể nói, từ khi có loài người xuất hiện nền văn hóa tâm linh. Nền văn hóa đó tồn tại song song với nền văn hóa đời thường. Văn hóa tâm linh là mạch ngầm chảy trong lòng nhân loại, nó là chiếc cầu nối giữa con người và thế giới tự nhiên, và ngày nay, cùng sự tiến bộ của loài người trong lĩnh vực khoa học, văn hóa tâm linh được nhìn nhận dưới góc độ ánh sáng khoa học và nền tảng của nó là đạo đức của con người.
[4] Văn hóa tâm linh là một hoạt động văn hóa của xã hội con người, biểu hiện ra những khía cạnh vật chất, tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống thường ngày và trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ của con người. Trong đó, thể hiện về ba phương diện đó văn hóa hữu hình, văn hóa vô hình và văn hóa hành động: Văn hóa hữu hình là những giá trị vật chất như những kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng (đền đài, nhà nhờ, đình chùa), hay những biểu tượng thiêng liêng (những pho tượng Phật. Văn hóa vô hình là những giá trị được biểu hiện thông qua những nghi lễ, lễ thức, ý niệm thiêng 6 liêng của con người về tôn giáo, tín ngưỡng. Văn hóa hành động thể hữu hình hóa những ý niệm vô hình, đó là những chuyến hành hương, những lần đi đến chùa lễ Phật để cầu bình an trong cuộc sống.
Du lịch tâm linh Du lịch tâm linh không phải là một vấn đề mới, thực chất hoạt động du lịch tâm linh đã có mặt cách đây hàng trăm năm trên khắp thế giới. Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về du lịch tâm linh. Trong nền văn hóa Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên, những người có công với đất nước là một truyền thống tốt đẹp có từ lâu đời. Đặc biệt trong thời gian gần đây, khi các chùa chiềng, đền, miếu ngày càng được tu sửa, cải tạo, khôi phục lại thì việc thờ cúng lại càng được chú trọng.
Đối với nhiều người thì việc đi lễ chùa, đi nhà thờ, đi hành hương cũng là một thói quen để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, cầu bình an cho bản thân và gia đình, đây cũng là một trong những biểu hiện của du lịch tâm linh. Theo Tổng cục du lịch Việt Nam: “Du lịch tâm linh lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống cho mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại”. Như vậy, khách đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu.
Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như đền, chùa, đình đài, lăng tẩm, nhà thờ, tòa thánh, khu thờ tự tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, đặc biệt là tham quan lễ hội… Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Vai trò của du lịch tâm linh Sự phát triển của kinh tế - xã hội đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao. Bên cạnh những nhu cầu về thưởng thức các giá trị tinh thần mang tính hiện đại, xu hướng về tín ngưỡng – tâm linh ngày càng tăng.
Vì vậy, du lịch tâm linh vừa có vai trò của hoạt động du lịch nói chung vừa có vai trò đặc thù riêng. - Phát triển du lịch tâm linh góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng – tâm linh của khách du lịch.