CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo tài liệu học tập, giáo trình “Đầu tư quốc tế” (2012) do Học Viện Ngân Hàng xuất bản định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình trong đó người cư trú của một quốc gia (quốc gia nguồn) mua quyền sở hữu tài sản với một quốc gia khác (quốc gia nhận đầu tư) với mục đích nắm quyền kiểm soát hoạt động sản xuất, phân phối và các hoạt động khác của doanh nghiệp”. [11] Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) (2014), “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.
[12] Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (1996), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty””.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) (2008) cũng có định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư xuyên quốc gia được thực hiện bởi chủ thể của một nền kinh tế nhằm thiết lập một lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (được gọi là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) của một nền kinh tế khác”. Còn UNCTAD (1999) xác định: “FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác”. [13] 7 Theo Khoản 22 Điều 3 của Luật Đầu tư 2020 định nghĩa: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại lợi nhuận tối đa cho chủ đầu tư.
Khi một nhà đầu tư nào đó bỏ vốn ra đầu tư tại một quốc gia khác dĩ nhiên mục tiêu và mong muốn của họ là làm sao có thể đạt được lợi nhuận cao nhất có thể. Và hoạt động FDI chính là một cách thức đầu tư để họ khai thác, thu được lợi nhuận từ một quốc gia bên ngoài. Nếu chủ đầu tư không thấy được tiềm năng để khai thác hoặc việc đầu tư nhưng không mang lại kết quả tối ưu thì họ sẽ không đầu tư, thậm chí là bỏ dự án. Vì vậy, khi nào mà nhà đầu tư có lợi ích cũng như lợi nhuận tối đa thì khi đó hoạt động FDI sẽ diễn ra.
Thứ hai, chủ đầu tư nắm quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với doanh nghiệp được đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài phải có quyền kiểm soát chính trong việc quản lý doanh nghiệp được đặt tại quốc gia khác bởi vì họ là những người bỏ vốn để đầu tư, họ phải có tầm quan trọng và quyền quyết định. Hơn nữa lại là đầu tư ở một quốc gia bên ngoài, khác biệt về thể chế chính trị, về văn hóa so với quốc gia của chủ đầu tư nên việc kiểm soát phải chặt chẽ hơn, khắt khe hơn và tầm ảnh hưởng cũng phải quan trọng hơn để có thể hạn chế các vấn đề hoặc các rủi ro phát sinh, đảm bảo nguồn vốn bỏ ra đầu tư an toàn. Đấy là lý do tại sao mà FDI lại có đặc điểm về quyền kiểm soát.
Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường gắn liền với các hoạt động chuyển vốn, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, chuyển giao kinh nghiệm, kiến thức cho các nước nhận đầu tư. Thường thì các nước đi đầu tư sẽ là các nước phát triển, còn những nước nghèo nàn hoặc đang phát triển sẽ là các nước nhận đầu tư. Chính bởi vậy, khi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra, các nước đi đầu tư sẽ chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sang các nước nhận đầu tư để phục vụ cho quá trình sản xuất và kinh doanh của họ, chuyển giao kinh nghiệm, kiến thức giúp lực lượng lao động có chuyên môn và trình độ để làm việc hiệu quả hơn. Từ đó, hoạt động FDI mới có kết quả và mang lại lợi ích cho chủ đầu tư.
Bên cạnh đó, quốc gia nhận đầu tư cũng được tiếp cận với những công nghệ hiện đại, tiên tiến; 8 người dân cũng có được công ăn việc làm, thu nhập ổn định trong các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó giúp kinh tế đất nước phát triển hơn. Thứ tư, chủ đầu tư phải đóng góp một phần vốn tối thiểu theo quy định đối với từng quốc gia cụ thể. Lợi nhuận đầu tư sẽ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi đã trừ đi phần nộp thuế và trả lợi tức cổ phần. Muốn hoạt động FDI diễn ra lành mạnh, an toàn thì mỗi quốc gia trên thế giới sẽ cần phải có những văn bản pháp luật liên quan quy định về việc đầu tư trực tiếp nước ngoài, đây sẽ là cơ sở nhất định để các bên thương lượng và hợp tác với nhau dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ ràng.
Theo đó, phía chủ đầu tư phải cam kết đóng góp một phần vốn tối thiểu theo quy định của quốc gia nhận đầu tư nhằm đảm bảo hoạt động FDI sẽ diễn ra cũng như là để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Ở mỗi quốc gia khác nhau, pháp luật sẽ có quy định khác nhau về vấn đề này. Ví dụ tại Mỹ, pháp luật quy định tỷ lệ là 10%, Pháp và Anh là 20%. Đối với Việt Nam, theo Luật cạnh tranh năm 2014 không phân biệt đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp mà gọi chung là đầu tư kinh doanh, còn theo quy định của OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp.
Thứ năm, quyền và nghĩa vụ mỗi bên sẽ được phân chia dựa theo tỷ lệ góp vốn. Tỷ lệ góp vốn của các chủ thể đầu tư sẽ quyết định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời đây cũng chính là chiếc chìa khóa quan trọng để phân chia lợi nhuận và rủi ro. Nhằm tránh trường hợp các bên đùn đẩy trách nhiệm hoặc tính toán thiệt hơn sau khi có kết quả hoạt động kinh doanh, mỗi bên sẽ có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định theo tỷ lệ góp vốn của mình, dựa vào cơ sở ấy để có thể xác định được mỗi bên hưởng bao nhiêu phần trăm lợi nhuận hoặc bên nào sẽ phải chịu trách nhiệm cao hơn khi rủi ro xảy ra. Thứ sáu, chủ đầu tư có quyền lựa chọn các loại hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, tự quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh, đồng thời chịu trách nhiệm đối với kết quả đầu tư dù lãi hay lỗ.
Vì quốc gia đi đầu tư là những người có lượng vốn lớn nên việc đầu tư vào lĩnh vực nào hay đầu tư theo hình thức nào là do họ quyết định. Do đó, khi đã xác định và lựa chọn bỏ vốn ra đầu tư rồi thì họ sẽ phải có trách nhiệm tương ứng với số vốn đầu tư đó, 9 phải chấp nhận mọi kết quả xảy ra dù là lãi hay lỗ. Khi ấy, thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư và quản lý. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được phân loại dựa theo nhiều hình thức khác nhau như: theo động cơ của nhà đầu tư, theo định hướng của nước nhận đầu tư, theo hình thức thâm nhập và một số cách phân loại khác.
Theo động cơ của nhà đầu tư Cách phân loại này được chia thành ba dạng đó là: FDI theo chiều ngang, FDI theo chiều dọc và FDI hỗn hợp. - FDI theo chiều ngang: FDI theo chiều ngang được tiến hành với mục đích mở rộng quy mô sản xuất các hàng hóa cùng loại hoặc tương tự ở trong nước tại nước ngoài (tại quốc gia nhận đầu tư). Vì thế, sự dị biệt hóa sản phẩm là yếu tố quan trọng trong cấu trúc thị trường đối với FDI theo chiều ngang. Khái quát hơn, FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm khai thác toàn bộ lợi thế độc quyền và độc quyền tập đoàn, ví dụ như bằng sáng chế hay những sản phẩm được dị biệt hóa, đặc biệt nếu việc mở rộng tại quê nhà là vi phạm luật chống độc quyền.
- FDI theo chiều dọc: FDI theo chiều dọc được tiến hành với mục đích khai thác những nguyên liệu thô (backward vertical FDI) hoặc tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng thông qua việc mua lại các kênh phân phối (forward vertical FDI). - FDI hỗn hợp: FDI hỗn hợp liên quan đến cả FDI chiều ngang và FDI chiều dọc được tiến hành với mục đích đa dạng hóa ngành kinh doanh nhằm phân tán rủi ro, thâm nhập ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. FDI hỗn hợp thực hiện đồng thời hai chiến lược quốc tế hóa và đa dạng hóa.
Theo định hướng của nước nhận đầu tư: Từ quan điểm của quốc gia nhận đầu tư, FDI có thể phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu, FDI gia tăng xuất khẩu, FDI do chính phủ khởi xướng. - FDI thay thế nhập khẩu: FDI thay thế nhập khẩu liên quan đến việc sản xuất các hàng hóa mà trước đây nước nhận đầu tư phải nhập khẩu, dẫn tới việc nhập khẩu của nước 10 nhận đầu tư và xuất khẩu của nước đi đầu tư giảm xuống. Loại hình FDI này thường phụ thuộc vào quy mô thị trường của quốc gia nhận đầu tư, chi phí vận chuyển và hàng rào thương mại.