Luận văn thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm ở đồ sơn cát bà hải phòng và một số yếu tố liên quan năm 2014

Nghiên cứu thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn, Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 và các yếu tố liên quan.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2014

57
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian tiến hành đề tài phân tích số liệu thứ cấp

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Mẫu nghiên cứu

2.5. Trình tự tiếp cận nghiên cứu/bộ số liệu

2.6. Phương pháp quản lý, phân tích số liệu

2.7. Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.8. Sai số có thể gặp phải trong nghiên cứu

2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014

3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

PHỤ LỤC 1: GIẤY XIN PHÉP SỬ DỤNG BỘ SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: BỘ CÂU HỎI SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỨ CẤP

PHỤ LỤC 3: CÁC BIẾN SỐ ĐƯỢC MÃ HÓA LẠI TRONG QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH ĐA BIẾN

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở phụ nữ mại dâm

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở nhóm phụ nữ mại dâm. Năm 2014, một nghiên cứu tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng đã chỉ ra rằng phụ nữ mại dâm là nhóm có nguy cơ cao mắc STIs. Theo thống kê, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm này lên tới 25,4%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng này.

1.1. Định nghĩa và phân loại bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là các bệnh do vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng gây ra, lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn. Các bệnh phổ biến bao gồm giang mai, lậu, và HIV/AIDS.

1.2. Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Việt Nam

Theo báo cáo của WHO, Việt Nam ghi nhận hàng trăm ngàn trường hợp mắc STIs mỗi năm. Số liệu cho thấy tỉ lệ mắc STIs trong nhóm phụ nữ mại dâm cao hơn nhiều so với các nhóm khác.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục

Phụ nữ mại dâm thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục sức khỏe. Điều này dẫn đến việc họ không nhận thức đầy đủ về các biện pháp phòng ngừa STIs. Hơn nữa, sự kỳ thị xã hội cũng là một rào cản lớn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ y tế.

2.1. Rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ y tế

Nhiều phụ nữ mại dâm không dám đến các cơ sở y tế do sợ bị kỳ thị hoặc bị phát hiện. Điều này làm giảm khả năng phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

2.2. Thiếu kiến thức về phòng ngừa bệnh lây truyền

Nhiều phụ nữ mại dâm không được trang bị kiến thức đầy đủ về các biện pháp phòng ngừa STIs, dẫn đến việc họ không sử dụng bao cao su hoặc các biện pháp bảo vệ khác.

III. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu về bệnh lây truyền

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu từ 492 phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà. Phương pháp phân tích số liệu được sử dụng để xác định tỉ lệ mắc STIs và các yếu tố liên quan.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, với đối tượng là phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn và nhà hàng. Dữ liệu được thu thập từ các bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp.

3.2. Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng thống kê mô tả và suy luận để phân tích dữ liệu, xác định mối liên quan giữa các yếu tố xã hội và tình trạng mắc STIs.

IV. Kết quả nghiên cứu về thực trạng mắc bệnh lây truyền

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc STIs trong nhóm phụ nữ mại dâm là 25,4%. Các yếu tố như thu nhập, số lượng STIs biết tên và nạo phá thai có mối liên quan chặt chẽ đến tình trạng mắc bệnh.

4.1. Tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trong số 492 phụ nữ mại dâm, 41,3% báo cáo mắc STIs trong vòng 1 tháng qua. Tỉ lệ này cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình hình sức khỏe trong nhóm này.

4.2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc bệnh

Nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ mại dâm có thu nhập cao hơn có nguy cơ mắc STIs cao gấp 2,1 lần so với những người có thu nhập thấp hơn.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong phòng ngừa bệnh lây truyền

Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng mắc STIs trong nhóm phụ nữ mại dâm. Việc nâng cao nhận thức và tiếp cận dịch vụ y tế là rất quan trọng để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

5.1. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe và cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho phụ nữ mại dâm để giảm thiểu tình trạng mắc STIs.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về bệnh lây truyền

Nghiên cứu cần tiếp tục được thực hiện để theo dõi tình hình mắc bệnh và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp đã triển khai.

14/07/2025
Luận văn thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm ở đồ sơn cát bà hải phòng và một số yếu tố liên quan năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÒNG QUÁN TÀI LIỆU 1. Khái niệm bệnh lây truyền qua đường tình dục Bệnh lầy truyền qua đường tình dục (STIs) là bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kỉ sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên, chủ yêu lây truyên từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục không được bảo vệ [29]. Hiện có hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng lây truyền qua đường tình dục gây bệnh khác nhau. những bệnh phô biên nhât ỉà giang mai.

lậu, trùng roi Trichomonas Vaginalis, nấm Candida, Chlamydia, hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà, và đặc biệt là hội chứng suy giảm miễn dịch mac phải ở người (HIV/AIDS) [29]. Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đưòĩig tình dục nói chung Theo thống kê của WHO, năm 2005, ước tính tổng số trường hợp mắc STIs trên thể giới là hon 448 triệu trường hợp, với khoảng gần 204,7 triệu phụ nữ và 243,5 triệu nam giới [28]. Mới đây nhất, tính đển năm 2013, WHO ước tính có khoảng 500 triệu người trưởng thành mắc một trong 4 STIs: giang mai, lậu, trùng roi Trichomonas vaginalis và Chlamydia mỗi năm trên thế giới, trong đó, khoảng 105,7 triệu trường hợp mắc Chlamydia, 106,] triệu trường hợp mắc lậu, 10,6 triệu trường hợp mắc giang mai và 276 triệu trường hợp mắc trùng roi Tricomonas Vaginalis. Có hơn 530 triệu người có virus gây herpes sinh dục [30].

Năm 2008, ở khu vực Đông Nam Á, trong tổng số 945,2 triệu người trưởng thành trong độ tuổi từ 15 đến 49, ước tính có khoảng 78,5 triệu người mới mắc 4 STIs phố biến (Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi), tăng hơn 8,5 triệu người so với năm 2005. Trong đó, tỉ lệ mới măc Chlamydia, giang mai. lậu và trùng roi âm đạo ở phụ nữ lần lượt là 9,2%; 3,2%; 16,2% và 40,3% [27]. Tại Việt Nam, số bệnh nhân mắc STls theo báo cáo mà Viện Da liễu Quốc gia nhận được từ các cơ sở y tế công lập là trên 150.000 trường hợp mỗi năm.856 trường hợp.

Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có xấp xỉ gần 1 triệu trường hợp mới mắc [4], Nguyên nhân làm số báo cáo thấp hơn số thực tế là do các cơ sở y tế công khám STIs không báo cáo đầy đủ, 7 và nhiều bệnh nhân còn đến khám tại các cơ sở y tế khác như bác sỹ tư, dược sỹ tư nhân. Năm 2003, Trung tâm kiềm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cùng Viện Da liêu quôc gia tiên hành một cuộc điêu tra vê tỉ lệ lưu hành HIV/STIs của các nhóm quần thể dân cư khác nhau tại 5 tỉnh của Việt Nam. Tỉ lệ mắc giang mai (cả giai đoạn sớm và muộn) ià khoảng 4,5% trong nhóm bệnh nhân đến khám tại phòng khám STIs, PNMD và khoảng 0,5% trong nhóm khám tuyển nghĩa vụ quân sự và phụ nữ có thai. Trong nhóm phụ nữ có thai, tỉ lệ mắc Chlamydia tù' 1,5% đến 5,8% [4].

Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đưòng tình dục của phụ nữ mại dâm PNMD là một trong những quần thể có nguy cơ cao nhiễm STIs. Trên thế giới nhiều nghiên cửu đã được tiến hành đế đánh giá thực trạng mắc STIs trong nhóm đối tượng này. Năm 2000-2002, một nghiên cứu cắt ngang tại 6 thành phố Argentina trên 625 PNMD cho thấy, giang mai là bệnh thường gặp nhất với tỉ lệ mắc là 10,2%, tiếp theo là viêm niệu đạo (3,4%) và lậu (3,2%) [22]. Nghiên cứu của Rusch và cộng sự tại Tijuana.

Mexico năm 2010 cho kết quả, tỉ lệ mắc STIs của PNMD là 36,4% [24]. Năm 2011, nghiên cứu tại Agadir, Nam Morocco trên 372 PNMD cho thấy, tỉ lệ nhiễm STIs trong nhóm PNMD tại Agadir đã tăng đáng kể so với kết quả thu được trong một nghiên cứu tiến hành năm 2007 với 13,8% bị nhiễm giang mai và 11,6% phụ nữ nhiễm trùng roi âm đạo Tricomonas Vaginalis [13]. Nghiên cứu cùa Bea Vuylsteke và cộng sự tiến hành năm 2007 và 2009 trên 1110 PNMD ở các thành phổ khác nhau tại Bờ Biển Ngà cho thấy tỉ lệ đối tượng mắc một trong hai bệnh lậu và Chlamydia cao (9,1%) [15], Tại Ấn Độ, một nghiên cứu tiến hành tại khu vực '■‘đèn đỏ" Surat năm 2000 cho kết quả, tỉ lệ PNMD mắc giang mai là 22,7%, tỉ lệ mắc lậu là 16,9%, có 14,4% mắc bệnh trùng roi và 8,5% đối tượng nhiễm Chlamydia sinh dục [19], A.Singh và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại khu vực “đèn đỏ” lớn nhất Mumbai - Kamathipura từ năm 2002 đến 2010 trên 19458 đối tượng PNMD. Tỉ lệ trường hợp phát hiện 8 nhiễm giang mai là 4,4%, tỉ lệ nhiễm Tricmonas là 1,7%, tỉ lệ nhiễm nấm Candida là 2,7%, tỉ lệ mắc STIs khác là 11,4% [25].

Một nghiên cửu tong quan thực trạng mắc HIV/STIs trên PNMD dựa trên sổ liệu từ 1996 đến 2010 ờ Trung Quốc cho kết quả tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD rất cao, cụ the, trung bỉnh tỉ lệ mac herpes là 56,2%, tỉ lệ mac Chlamydia là 25,7%, tỉ lệ mắc lậu là 16,4%, tỉ lệ mắc giang mai là 6,9%, [23], Kết quả nghiên cứu cắt ngang trên 505 PNMD tại Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc năm 2005 cũng cho thấy tỉ lệ mac STIs cao tuông tự, phổ biến nhất là Chlamydia (58,6%), tiếp theo là trùng roi Trichomonas vaginalis (43,2%) và lậu (37,8%), ti lệ mắc giang mai là 9,5% [18]. Nghiên cứu khác trên PNMD tại Quảng Đông năm 2010 cho thấy, tì lệ mắc STIs nói chung là 19,7%, trong đó, tỉ lệ đối tượng mắc lậu, giang mai và Chlamydia lần lượt là 9,5%, 8,0% và 3,9% [33], Tại Campuchia, trong nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005), tỉ lệ PNMD mắc ít nhất một STI là 24,4%, tỉ lệ mắc lậu là 13%, có 14% đối tượng mắc Chlamydia và 2% nhiễm giang mai [20]. Kết quả nghiên cứu trên PNMD tại Lào năm 2010 cho thấy có 86,7% đối tượng báo cáo là có triệu chứng của STIs trong vòng 3 tháng qua [21]. Tại Việt Nam, kết quả Chương trình Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) năm 2005-2006 cho thấy, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD khá cao.

Trên 7 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Quãng Ninh, Đà Nang, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang có từ 26,2% đến 44,8% PNMD báo cáo có triệu chứng tiết dịch niệu đạo và có 16,3% đến 21,3% báo cáo có đau loét sùi ở bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước điều tra [1]. Tỉ lệ nhiễm giang mai trong nhóm PNMD nhà hàng và đường phố ở Tp.Hồ Chí Minh lần lượt là 7,3% và 9,1%, tại Cần Thơ là 1,0% và 5,6%, tại An Giang là 5,5% và 5,8%. Tỉ lệ nhiễm Chlamydia ở PNMD tại nhà hàng và đường phố lần lượt là 8,5% và 17,5% tại Hà Nội và 6,4% và 14,2% tại thành phố Hồ Chí Minh [1]. Đen năm 2009, Chương trình Giám sát kết họp hành vi vả các chỉ số sinh học IBBS vòng II cho thấy, tỉ lệ hiện nhiễm STIs có xu hướng giảm trong cả hai nhóm PNMD đường phổ và nhà hàng tại Hà Nội; tỉ lệ nhiễm 9 Chlamydia có xu hướng tăng trong nhóm PNMD đường phố ở Hồ Chí Minh (10% năm 2009 so với 6% năm 2006).

Tỷ lệ nhiễm lậu và giang mai ở mức thấp [2], Tại Hải Phòng, trong IBBS II, tỉ lệ PNMD đường phổ tự báo cáo có triệu chứng chảy mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 30,7%, tỉ lệ có triệu chửng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là ] 8,7%. Tỉ lệ PNMD nhà hàng tự báo cáo có triệu chứng chảy mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 22,8%, tỉ lệ có triệu chứng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là 7,7% [1], [2]. Tại Huế, nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý (2005) trên 100 PNMD cho tỉ lệ mắc STIs là 66% [9]. Nghiên cứu cắt ngang của Lý Văn Sơn và cộng sự (2008) tiến hành trên 665 PNMD tại các cơ sở dịch vụ giải trí Thành phố Huế cho thấy tỷ lệ 47,7% đối tượng nghiên cứu mắc STIs; trong đó, 31,9% nhiễm nấm Candida sinh dục: 30,6% mẳc lậu cầu; 27,1% viêm âm đạo vi khuẩn; 8,8% trùng roi sinh dục; 8,2% mac Chlamydia; 3,5% mac Herpes sinh dục; 2,8% giang mai và 0,9% sùi mào gà [11], Tại Đà Nằng, nghiên cứu nãm 2005 trên 201 nữ nhân viên cơ sở vật lý trị liệu tại quận Hải Châu, Đà Nang cho tỉ lệ mắc STIs là 27,9% [12].

Tại Nha Trang, Khánh Hòa, năm 2005, tỉ lệ PNMD tự báo cáo có biểu hiện STIs trong 12 tháng qua là 66,7% (theo Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự) [6]. Nghiên cứu cùa Bùi Thị Mậu tiến hành trên nhóm đối tượng PNMD tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục — Lao động Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2009 cho kết quả, trong 162 PNMD được khám và xét nghiệm, có 67% mắc STIs. Viêm âm đạo và viêm cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao, lần lượt là 85,8% và 58%. STIs gặp nhiêu nhât ở PNMD tham gia nghiên cửu này là lậu (24,1%), kể tiếp là nấm candida (16,7%), chlamydia (9,9%), sùi mào gà (7,4%), herpes sinh dục (4,9%), trùng roi tricomonas (3,7%), giang mai (1,9%) [7], 1.

Một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục cùa phụ nữ mại dâm ❖ ĩ* Tuổi Tuổi là một trong những yếu tố được tìm thấy là có mối liên quan với mắc STIs ở PNMD trong một số nghiên cứu. Trong nghiên cửu của Maria A. Pando và cộng sự tại Argentina, những PNMD cao tuổi có nguy cơ mắc giang mai cao hơn so 10 với những PNMD trẻ hơn với CI 95% OR là 2,6-4,9 [22]. Tại Surat, Ấn Độ, tỉ lệ mắc STIs ở nhóm trên 25 tuổi cao hơn so với nhóm <=25 tuổi (45,8 so với 42,5%) [19].

Nghiên cứu tại Quảng Châu, Trung Quốc lại cho thấy, nhóm PNMD dưới 21 tuôi có nguy cơ màc Chlamydia cao gấp 2 lẩn so với nhóm PNMD trên 30 tuổi (CI 95% OR là 1,2-3,4) [31], Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Bùi Thị Mậu năm 2009 [7], ti lệ PNMD mắc STỈs cao đáng kể trong nhóm PNMD trẻ (dưới 30 tuổi) SO với nhóm từ 30 tuổi trở lên (70,7% so với 48,3%, p=0,02). Một nghiên cứu khác tại Hải Phòng, tiến hành trên một số nhóm người có nguy cơ cao với STIs trong đó có PNMD cho thấy nhóm tuổi trên 40 là nhóm tuổi có tỉ lệ mắc giang mai cao nhất là 5%; nhóm tuổi từ 30-39 có tỉ lệ mắc giang mai thấp nhất 0,2%. Tỉ lệ mắc lậu có xu hướng tăng dần theo độ tuổi, từ 2% ở nhóm dưới 20 tuổi lên 3% ở nhóm 20-29 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 40 tuổi (4,1%) [5].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn, Cát Bà, Hải Phòng năm 2014" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) trong nhóm phụ nữ mại dâm tại khu vực Đồ Sơn và Cát Bà. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ tỷ lệ mắc bệnh mà còn phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan, từ đó giúp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản và các biện pháp phòng ngừa. Đặc biệt, tài liệu này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách và tổ chức y tế hiểu rõ hơn về tình hình thực tế, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn trong việc bảo vệ sức khỏe cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Thực trạng sử dụng thuốc lá ở người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại hà nội, nơi đề cập đến tác động của thuốc lá đối với sức khỏe tâm thần. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu rối loạn glucosse máu và yếu tố liên quan ở một số dân tộc tỉnh bắc kạn cũng cung cấp thông tin về các yếu tố sức khỏe khác có thể ảnh hưởng đến cộng đồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Thực trạng rối loạn điện giải và một số yếu tố liên quan của người bệnh covid 19 tại bv điều trị người bệnh covid 19 bv đhyhn năm 2021 2022, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe trong bối cảnh đại dịch. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề sức khỏe hiện nay.