Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) do hơn 30 loại vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng gây ra, chủ yếu lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm toàn cầu có khoảng 500 triệu ca mắc mới ở 4 nhóm bệnh phổ biến gồm giang mai, lậu, Chlamydia và trùng roi (Trichomonas vaginalis). Tại khu vực Đông Nam Á, năm 2008 ghi nhận khoảng 78,5 triệu ca mắc mới ở nhóm tuổi 15–49. Tại Việt Nam, hệ thống y tế công lập tiếp nhận báo cáo hơn 150.000 trường hợp mắc STIs mỗi năm, trong khi số ca mắc thực tế ước tính xấp xỉ gần 1 triệu trường hợp.
Phụ nữ mại dâm (PNMD) là nhóm quần thể có nguy cơ cao lây nhiễm và lan truyền STIs ra cộng đồng do tần suất quan hệ tình dục cao, tiếp xúc nhiều đối tượng và mức độ di biến động lớn giữa các địa phương. Quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng là hai trung tâm du lịch lớn của miền Bắc (năm 2014, Đồ Sơn đón 2,3 triệu lượt khách và Cát Bà đón 1,5 triệu lượt khách), quy tụ số lượng lớn PNMD hoạt động tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng.
Nhằm cải thiện tình trạng này, năm 2014, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA) triển khai chương trình can thiệp tăng cường tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và dự phòng HIV cho nhóm PNMD tại Đồ Sơn. Để cung cấp chỉ số đầu vào và cơ sở đánh giá, một nghiên cứu gốc đã được tiến hành tại Đồ Sơn và Cát Bà. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Bảo Ngọc thực hiện phân tích số liệu thứ cấp từ cuộc điều tra trên.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mô tả thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014.
- Xác định một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 ra sao?
- Những yếu tố nào liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của những phụ nữ mại dâm này?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mại dâm làm việc tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng ở quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi không gian: Quận Đồ Sơn (địa bàn can thiệp) và huyện đảo Cát Bà (địa bàn so sánh).
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu gốc diễn ra vào tháng 4–5/2014; đề tài phân tích số liệu thứ cấp được thực hiện từ ngày 15/03/2015 đến ngày 15/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết
Tác giả xây dựng khung lý thuyết dịch tễ học nhằm phân tích mối quan hệ tác động giữa 4 nhóm yếu tố độc lập lên biến phụ thuộc là tình trạng mắc STIs trong 12 tháng qua của PNMD:
- Đặc điểm chung của đối tượng: Nhóm tuổi, trình độ học vấn (TĐHV), dân tộc, nơi ở hiện tại, thời gian sống tại địa bàn.
- Yếu tố nghề nghiệp: Thời gian làm nghề mại dâm, số lượng khách hàng trung bình mỗi ngày, thu nhập trung bình mỗi tháng.
- Kiến thức về STIs: Số lượng các bệnh STIs mà đối tượng biết tên hoặc đã từng nghe nói.
- Yếu tố hành vi và lối sống: Tần suất sử dụng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục trong tháng qua, sử dụng BCS trong lần quan hệ gần nhất, tiền sử nạo phá thai hoặc hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua.
Định nghĩa và tiêu chuẩn đánh giá
- Mắc STIs trong 12 tháng qua (Biến phụ thuộc): Được xác định khi đối tượng tự khai báo có bị viêm nhiễm đường sinh dục hoặc có vết loét, đau, sùi ở bộ phận sinh dục trong vòng 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn.
- Tần suất sử dụng bao cao su trong 1 tháng qua: Phân loại thành "Thường xuyên" (sử dụng tất cả hoặc hầu hết các lần quan hệ tình dục) và "Không thường xuyên" (thỉnh thoảng hoặc không bao giờ sử dụng).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích (Cross-sectional analytical study), sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp từ đề tài nghiên cứu gốc của TS. Bùi Thị Tú Quyên và cộng sự (2014).
- Mẫu nghiên cứu: Toàn bộ $N = 492$ PNMD trong bộ dữ liệu gốc đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn: từ 18 tuổi trở lên, có quan hệ tình dục nhận tiền ít nhất 1 lần trong vòng 1 tháng trước điều tra, đang làm việc tại các cơ sở khách sạn/nhà hàng tại Đồ Sơn ($n = 397$) hoặc Cát Bà ($n = 95$) và đồng ý tham gia. Mẫu nghiên cứu gốc được chọn thông qua kỹ thuật lập bản đồ điểm và phát triển mẫu theo phương pháp hòn tuyết lăn (snowball sampling).
Phương pháp quản lý và phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 với hệ thống 16 biến số:
- Thống kê mô tả: Tính tần số ($n$), tỷ lệ phần trăm (%), giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị và khoảng tin cậy 95% (95% CI).
- Thống kê suy luận đơn biến: Sử dụng kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) hoặc kiểm định chính xác Fisher (Fisher's exact test khi tần số kỳ vọng $\le 5$) để so sánh tỷ lệ và tính tỷ suất chênh thô (OR thô kèm 95% CI).
- Thống kê suy luận đa biến: Sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến (Multivariable Logistic Regression) theo phương pháp Enter. Tiêu chuẩn chọn biến độc lập vào mô hình hồi quy gồm: các biến có giá trị $p < 0,2$ ở phân tích đơn biến, kết hợp bổ sung 2 biến nhân khẩu học - hành vi quan trọng là nhóm tuổi và tần suất dùng BCS trong tháng qua để kiểm soát tương tác và nhiễu. Độ phù hợp của mô hình được đánh giá qua kiểm định Hosmer and Lemeshow.
Đạo đức nghiên cứu và kiểm soát sai số
Đề tài gốc đã được Hội đồng Đạo đức thông qua; đối tượng phỏng vấn hoàn toàn tự nguyện tại không gian riêng tư, được bảo mật thông tin và nhận thù lao bù đắp thời gian. Việc phân tích số liệu thứ cấp được chấp thuận bằng văn bản của chủ nhiệm đề tài gốc. Tác giả cũng chỉ rõ nguy cơ sai số nhớ lại (recall bias) và sai số thông tin do đối tượng tự báo cáo hành vi nhạy cảm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện các định nghĩa bệnh học, tác nhân gây bệnh STIs và thực trạng dịch tễ học trên phạm vi toàn cầu, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Tác giả đối chiếu các chỉ số từ các nghiên cứu quốc tế (Campuchia, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ, Bờ Biển Ngà, Morocco, Mexico, Argentina) và trong nước (chương trình giám sát IBBS vòng I năm 2005–2006, IBBS vòng II năm 2009; các nghiên cứu tại Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Hòa Bình).
Nội dung tổng quan làm rõ các yếu tố nguy cơ thường gặp ở PNMD gồm: tuổi đời trẻ, học vấn thấp, di biến động địa bàn, thâm niên làm nghề, mật độ tiếp khách cao, thu nhập, rào cản nhận thức về triệu chứng bệnh, tần suất sử dụng bao cao su không đều và tiền sử can thiệp thủ thuật sản phụ khoa không an toàn. Đồng thời, chương 1 giới thiệu mục tiêu và phương pháp luận của nghiên cứu can thiệp gốc do UNFPA/MOLISA tài trợ tại Hải Phòng năm 2014.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả tường minh quy trình nghiên cứu phân tích số liệu thứ cấp, danh mục 16 biến số nghiên cứu kèm bảng phân loại kiểu biến (rời rạc, nhị phân, thứ bậc, liên tục, định danh). Chương này trình bày chi tiết các bước quản lý số liệu trên SPSS 16, thuật toán phân tích đơn biến, quy tắc lựa chọn biến đưa vào mô hình hồi quy đa biến logistic (tiêu chuẩn cắt $p < 0,2$, phương pháp Enter, kiểm tra độ phù hợp Hosmer and Lemeshow, chênh lệch $-2\log\text{likelihood}$, giá trị $R^2$), các khái niệm công cụ, tiêu chuẩn phân loại biến hành vi/bệnh tật, các nguồn sai số tiềm ẩn và thủ tục đạo đức nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ các phát hiện định lượng rút ra từ tập dữ liệu $N = 492$ PNMD, chia thành 3 phần:
- Đặc điểm nhân khẩu - xã hội và nghề nghiệp: 68,7% ở độ tuổi 20–25; tuổi trung bình tại Đồ Sơn ($22,3 \pm 3,6$) trẻ hơn Cát Bà ($24,4 \pm 4,3$, $p < 0,001$); 62,0% là người Kinh; 55,3% có trình độ THCS; 25,0% mới đến địa bàn dưới 1 tháng; số khách trung bình/ngày ở Đồ Sơn là 6,8 khách (cao hơn Cát Bà là 4,2 khách, $p < 0,001$); thu nhập trung bình tại Đồ Sơn đạt 8,86 triệu đồng/tháng (Cát Bà đạt 8,58 triệu đồng/tháng).
- Thực trạng mắc STIs: Tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs trong 12 tháng qua là 25,4% (125/492), tỷ lệ báo cáo có vết loét/đau/sùi bộ phận sinh dục là 10,4%. Trong số người mắc STIs, 41,3% mắc trong vòng 1 tháng gần nhất và 42,4% mắc từ 1–3 tháng qua.
- Các yếu tố liên quan qua phân tích đơn biến và đa biến: Xác định mối liên quan đơn biến có ý nghĩa ($p < 0,05$) giữa mắc STIs với trình độ học vấn ($OR = 2,3$), thời gian sống tại địa bàn $\le 3$ tháng ($OR = 1,7$), thời gian làm nghề $> 3$ tháng ($OR = 1,8$), thu nhập $> 6$ triệu đồng/tháng ($OR = 2,5$), biết $\ge 5$ tên STIs ($OR = 1,7$), nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt ($OR = 3,3$). Khi đưa vào mô hình hồi quy logistic đa biến, 3 yếu tố giữ được mối liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê là thu nhập $> 6$ triệu đồng/tháng ($OR = 2,1$), biết $\ge 5$ tên STIs ($OR = 1,7$) và nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt ($OR = 3,1$).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả biện giải các kết quả thu được trong mối tương quan với các y văn trong và ngoài nước:
- Phân tích nguyên nhân tuổi đời PNMD tại Đồ Sơn - Cát Bà trẻ hơn (trung bình 22,7 tuổi) so với các điều tra IBBS Hải Phòng trước đây (tuổi trung bình 30), tính chất mùa vụ du lịch (thường làm việc 8–9 tháng từ tháng 3 đến trước Tết âm lịch) thúc đẩy di biến động liên tục.
- Lý giải tỷ lệ mắc STIs (25,4%) giảm so với các nghiên cứu giai đoạn 2005–2008 nhờ hiệu quả của Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2007 và các chương trình bao cao su 100%, dự án Life-GAP, Quỹ Toàn cầu.
- Giải thích các nghịch lý thống kê ghi nhận được: người có học vấn cao hơn hoặc biết nhiều tên bệnh STIs hơn lại có tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs cao hơn do nhóm này có nhận thức sức khỏe tốt hơn, nhạy cảm với triệu chứng và chủ động khai báo hơn nhóm thiếu kiến thức.
- Biện luận cơ chế liên quan giữa nạo phá thai không an toàn với nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục và lây truyền STIs. Thảo luận các hạn chế về thiết kế không xét nghiệm sinh học, dữ liệu tự báo cáo và tính phụ thuộc vào bộ số liệu gốc.
Chương 5: Kết luận
Đúc kết ngắn gọn các chỉ số dịch tễ học then chốt về thực trạng tỷ lệ mắc STIs (25,4%) và khẳng định 3 yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy đa biến logistic ($p < 0,05$).
Kết quả và đóng góp
Số liệu thống kê tổng hợp từ khóa luận
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và so sánh giữa hai địa bàn
| Đặc tính nghiên cứu |
Đồ Sơn ($n=397$) |
Cát Bà ($n=95$) |
Toàn bộ mẫu ($N=492$) |
Giá trị $p$ |
| Nhóm tuổi 20–25 |
71,3% |
57,9% |
68,7% |
$< 0,001$ |
| Dân tộc Kinh |
61,2% |
65,3% |
62,0% |
$> 0,05$ |
| Trình độ học vấn THCS |
53,9% |
61,1% |
55,3% |
$> 0,05$ |
| Sống tại địa bàn $< 1$ tháng |
22,4% |
35,8% |
25,0% |
$< 0,05$ |
| Thời gian làm nghề $\ge 6$ tháng |
35,5% |
55,8% |
39,4% |
$< 0,01$ |
| Số khách tiếp $\ge 7$ khách/ngày |
47,9% |
24,2% |
43,3% |
$< 0,001$ |
| Thu nhập bình quân $> 10$ triệu/tháng |
27,5% |
16,8% |
25,4% |
$< 0,05$ |
| Tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs 12 tháng |
23,1% |
25,9% |
25,4% |
$> 0,05$ |
Bảng 2: Kết quả mô hình hồi quy đa biến Logistic về các yếu tố liên quan đến mắc STIs (N=492)
| Yếu tố liên quan (Biến độc lập) |
Phân nhóm so sánh |
Tỷ suất chênh ($OR$) |
Khoảng tin cậy 95% CI |
Mức ý nghĩa ($p$) |
| Nhóm tuổi |
$\le 25$ tuổi (vs $> 25$ tuổi) |
1,3 |
0,7 – 2,3 |
0,430 |
| Thời gian làm mại dâm |
$> 3$ tháng (vs $\le 3$ tháng) |
1,6 |
1,0 – 2,5 |
0,060 |
| Số khách trung bình/ngày |
$\ge 5$ khách (vs 1–4 khách) |
1,1 |
0,6 – 1,9 |
0,785 |
| Thu nhập trung bình/tháng |
$> 6$ triệu (vs $\le 6$ triệu) |
2,1 |
1,3 – 3,5 |
$< 0,01$ |
| Số lượng STIs biết tên |
$\ge 5$ bệnh (vs $< 5$ bệnh) |
1,7 |
1,1 – 2,6 |
0,010 |
| Tần suất dùng BCS trong tháng |
Thường xuyên (vs Không thường xuyên) |
1,3 |
0,7 – 2,6 |
0,380 |
| Nạo phá thai/hút ĐHKN 12 tháng |
Có (vs Không) |
3,1 |
1,8 – 5,5 |
$< 0,001$ |
(Kiểm định Hosmer and Lemeshow: $\chi^2 = 11,498$; $df = 7$; $p = 0,118 > 0,05$ — mô hình có độ phù hợp tốt).
Phát hiện chính
- Tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs trong 12 tháng qua ở nhóm PNMD tại cơ sở khách sạn, nhà hàng Đồ Sơn và Cát Bà năm 2014 là 25,4% (không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Đồ Sơn 23,1% và Cát Bà 25,9%).
- Nhóm có thu nhập trung bình trên 6 triệu đồng/tháng có nguy cơ mắc STIs cao gấp 2,1 lần nhóm có thu nhập từ 6 triệu đồng trở xuống ($OR = 2,1$; 95% CI: 1,3–3,5).
- Nhóm có hiểu biết từ 5 loại STIs trở lên có tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs cao gấp 1,7 lần nhóm biết dưới 5 loại STIs ($OR = 1,7$; 95% CI: 1,1–2,6).
- Nhóm từng nạo phá thai hoặc hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua có nguy cơ mắc STIs cao gấp 3,1 lần nhóm không can thiệp thủ thuật này ($OR = 3,1$; 95% CI: 1,8–5,5).
- Sau khi kiểm soát đa biến, các yếu tố về nhóm tuổi, thời gian làm nghề, mật độ tiếp khách và tần suất sử dụng bao cao su trong tháng không còn mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Đóng góp thực tiễn và khoa học của tác giả
Khóa luận đã bổ sung bức tranh dịch tễ học về gánh nặng STIs trên nhóm PNMD tại các tụ điểm du lịch ven biển đặc thù của miền Bắc Việt Nam năm 2014. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng quan trọng chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền sử nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt không an toàn với nguy cơ lây nhiễm STIs, đồng thời làm cơ sở thực nghiệm giúp chương trình UNFPA/MOLISA định hướng các can thiệp tích hợp giữa dịch vụ phòng chống HIV/STIs với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện cho nhóm lao động giải trí.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế do tác giả tự xác định
- Thiếu chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm sinh học: Nghiên cứu gốc không thực hiện khám chuyên khoa phụ khoa/da liễu hay xét nghiệm vi sinh. Tiêu chí mắc STIs hoàn toàn dựa trên lời tự khai của đối tượng về các triệu chứng viêm nhiễm hoặc loét, đau, sùi bộ phận sinh dục. Điều này có thể bỏ sót các ca nhiễm trùng không triệu chứng hoặc phân loại nhầm các viêm nhiễm thông thường thành STIs, dẫn đến sai số ước lượng.
- Sai số thông tin và che giấu hành vi: Do mại dâm là hoạt động bị pháp luật nghiêm cấm và mang định kiến xã hội nặng nề, đối tượng có tâm lý e ngại, che giấu tiền sử mắc bệnh và hành vi nguy cơ khi trả lời phỏng vấn (social desirability bias).
- Giới hạn của số liệu thứ cấp: Việc phân tích phụ thuộc hoàn toàn vào cấu trúc biến số có sẵn trong bộ dữ liệu gốc. Điển hình là phần kiến thức STIs chỉ mới khảo sát nhận biết tên bệnh, chưa đo lường sâu về hiểu biết đường lây, cách phòng ngừa hay kỹ năng thương lượng sử dụng bao cao su. Do tính bảo mật danh tính của nghiên cứu gốc, tác giả không thể tiếp cận lại đối tượng để thu thập dữ liệu bổ sung.
Hướng nghiên cứu tiếp
Cần triển khai các nghiên cứu dịch tễ học kết hợp khảo sát hành vi với giám sát sinh học (xét nghiệm định danh vi khuẩn, virus STIs tại thực địa) nhằm xác định chính xác tỷ lệ hiện nhiễm thực tế. Đồng thời, cần mở rộng các nghiên cứu theo dõi dọc đánh giá hiệu quả dài hạn của các mô hình phòng khám SKSS thân thiện tại các địa bàn du lịch trọng điểm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học, Thống kê y tế, Xã hội học y tế và Y học dự phòng.
- Phần nội dung có giá trị cao:
- Kỹ thuật xử lý số liệu thứ cấp: Phương pháp tái cấu trúc và mã hóa lại biến số từ bộ dữ liệu có sẵn để trả lời câu hỏi nghiên cứu mới.
- Quy trình phân tích đa biến: Cách ứng dụng mô hình hồi quy đa biến logistic (Multivariable Logistic Regression), phương pháp kiểm soát biến nhiễu/tương tác và đánh giá độ phù hợp của mô hình bằng kiểm định Hosmer and Lemeshow trên phần mềm SPSS.
- Kỹ năng biện giải dịch tễ học: Cách giải thích các nghịch lý thống kê thực địa (sự chênh lệch giữa nhận thức - học vấn với tỷ lệ tự báo cáo bệnh) và đối chiếu số liệu đa nguồn từ các chương trình giám sát hành vi kết hợp sinh học (IBBS).
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phụ nữ mại dâm tự báo cáo mắc STIs trong nghiên cứu này là bao nhiêu và thời điểm mắc bệnh phân bố như thế nào?
Tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs trong 12 tháng qua ở toàn bộ mẫu 492 PNMD là 25,4% (125 người); tỷ lệ báo cáo có vết loét, đau hoặc sùi bộ phận sinh dục là 10,4%. Trong số 125 đối tượng mắc bệnh, 41,3% cho biết mắc trong vòng 1 tháng gần nhất, 42,4% mắc trong khoảng từ 1–3 tháng qua và 11,5% mắc từ 3–6 tháng qua.
2. Trong mô hình hồi quy đa biến logistic, những yếu tố nào có mối liên quan độc lập với tình trạng mắc STIs của PNMD?
Sau khi kiểm soát đồng thời các biến số trong mô hình, có 3 yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$):
- Thu nhập trung bình trên 6 triệu đồng/tháng: nguy cơ mắc STIs cao gấp 2,1 lần so với nhóm thu nhập $\le 6$ triệu đồng ($OR = 2,1$; 95% CI: 1,3–3,5; $p < 0,01$).
- Biết tên từ 5 bệnh STIs trở lên: tỷ lệ tự báo cáo mắc STIs cao gấp 1,7 lần so với nhóm biết dưới 5 bệnh ($OR = 1,7$; 95% CI: 1,1–2,6; $p = 0,01$).
- Có nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua: nguy cơ mắc STIs cao gấp 3,1 lần so với nhóm không thực hiện ($OR = 3,1$; 95% CI: 1,8–5,5; $p < 0,001$).
3. Vì sao những phụ nữ mại dâm biết nhiều tên bệnh STIs hơn lại có tỷ lệ tự báo cáo mắc bệnh cao hơn?
Do tình trạng mắc bệnh trong nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp tự báo cáo không qua xét nghiệm, những đối tượng có hiểu biết và nhận biết được nhiều loại STIs thường quan tâm hơn đến sức khỏe bản thân, chú ý nhận diện các dấu hiệu lâm sàng bất thường và sẵn sàng khai báo tình trạng viêm nhiễm của mình hơn so với những người thiếu kiến thức.
4. Sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học và nghề nghiệp giữa PNMD tại Đồ Sơn và Cát Bà được ghi nhận ra sao?
PNMD tại Đồ Sơn có độ tuổi trung bình trẻ hơn ($22,3 \pm 3,6$ so với $24,4 \pm 4,3$; $p < 0,001$), thời gian làm nghề dưới 6 tháng cao hơn (64,5% so với 44,2%; $p < 0,01$), số khách trung bình tiếp trong ngày cao hơn đáng kể (6,8 khách so với 4,2 khách; $p < 0,001$) và thu nhập bình quân cao hơn so với PNMD tại Cát Bà ($p < 0,05$).
5. Nguồn gốc của bộ số liệu thứ cấp được sử dụng trong khóa luận này xuất phát từ đâu?
Bộ số liệu xuất phát từ cuộc điều tra thực địa cắt ngang thuộc đề tài nghiên cứu ban đầu do TS. Bùi Thị Tú Quyên đại diện nhóm nghiên cứu triển khai vào tháng 4–5/2014, nhằm phục vụ đánh giá chương trình can thiệp tăng cường tiếp cận dịch vụ SKSS/dự phòng HIV của UNFPA và MOLISA tại Đồ Sơn và Cát Bà. Sinh viên đã thực hiện thủ tục xin phép và được chấp thuận khai thác dữ liệu thứ cấp cho khóa luận tốt nghiệp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Bảo Ngọc đã phân tích thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm phụ nữ mại dâm tại hai địa bàn du lịch Đồ Sơn và Cát Bà (Hải Phòng) với tỷ lệ tự báo cáo mắc bệnh trong 12 tháng qua là 25,4%. Thông qua mô hình hồi quy đa biến logistic, nghiên cứu đã chứng minh thu nhập trên 6 triệu đồng/tháng, nhận biết từ 5 loại STIs trở lên và tiền sử nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt là 3 yếu tố liên quan độc lập làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp xử lý dữ liệu dịch tễ học thứ cấp và cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ hoạch định can thiệp giảm hại sức khỏe sinh sản cho nhóm lao động tình dục.