CHƯƠNG 1: TÒNG QUÁN TÀI LIỆU 1. Khái niệm bệnh lây truyền qua đường tình dục Bệnh lầy truyền qua đường tình dục (STIs) là bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kỉ sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên, chủ yêu lây truyên từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục không được bảo vệ [29]. Hiện có hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng lây truyền qua đường tình dục gây bệnh khác nhau. những bệnh phô biên nhât ỉà giang mai.
lậu, trùng roi Trichomonas Vaginalis, nấm Candida, Chlamydia, hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà, và đặc biệt là hội chứng suy giảm miễn dịch mac phải ở người (HIV/AIDS) [29]. Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đưòĩig tình dục nói chung Theo thống kê của WHO, năm 2005, ước tính tổng số trường hợp mắc STIs trên thể giới là hon 448 triệu trường hợp, với khoảng gần 204,7 triệu phụ nữ và 243,5 triệu nam giới [28]. Mới đây nhất, tính đển năm 2013, WHO ước tính có khoảng 500 triệu người trưởng thành mắc một trong 4 STIs: giang mai, lậu, trùng roi Trichomonas vaginalis và Chlamydia mỗi năm trên thế giới, trong đó, khoảng 105,7 triệu trường hợp mắc Chlamydia, 106,] triệu trường hợp mắc lậu, 10,6 triệu trường hợp mắc giang mai và 276 triệu trường hợp mắc trùng roi Tricomonas Vaginalis. Có hơn 530 triệu người có virus gây herpes sinh dục [30].
Năm 2008, ở khu vực Đông Nam Á, trong tổng số 945,2 triệu người trưởng thành trong độ tuổi từ 15 đến 49, ước tính có khoảng 78,5 triệu người mới mắc 4 STIs phố biến (Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi), tăng hơn 8,5 triệu người so với năm 2005. Trong đó, tỉ lệ mới măc Chlamydia, giang mai. lậu và trùng roi âm đạo ở phụ nữ lần lượt là 9,2%; 3,2%; 16,2% và 40,3% [27]. Tại Việt Nam, số bệnh nhân mắc STls theo báo cáo mà Viện Da liễu Quốc gia nhận được từ các cơ sở y tế công lập là trên 150.000 trường hợp mỗi năm.856 trường hợp.
Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có xấp xỉ gần 1 triệu trường hợp mới mắc [4], Nguyên nhân làm số báo cáo thấp hơn số thực tế là do các cơ sở y tế công khám STIs không báo cáo đầy đủ, 7 và nhiều bệnh nhân còn đến khám tại các cơ sở y tế khác như bác sỹ tư, dược sỹ tư nhân. Năm 2003, Trung tâm kiềm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cùng Viện Da liêu quôc gia tiên hành một cuộc điêu tra vê tỉ lệ lưu hành HIV/STIs của các nhóm quần thể dân cư khác nhau tại 5 tỉnh của Việt Nam. Tỉ lệ mắc giang mai (cả giai đoạn sớm và muộn) ià khoảng 4,5% trong nhóm bệnh nhân đến khám tại phòng khám STIs, PNMD và khoảng 0,5% trong nhóm khám tuyển nghĩa vụ quân sự và phụ nữ có thai. Trong nhóm phụ nữ có thai, tỉ lệ mắc Chlamydia tù' 1,5% đến 5,8% [4].
Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đưòng tình dục của phụ nữ mại dâm PNMD là một trong những quần thể có nguy cơ cao nhiễm STIs. Trên thế giới nhiều nghiên cửu đã được tiến hành đế đánh giá thực trạng mắc STIs trong nhóm đối tượng này. Năm 2000-2002, một nghiên cứu cắt ngang tại 6 thành phố Argentina trên 625 PNMD cho thấy, giang mai là bệnh thường gặp nhất với tỉ lệ mắc là 10,2%, tiếp theo là viêm niệu đạo (3,4%) và lậu (3,2%) [22]. Nghiên cứu của Rusch và cộng sự tại Tijuana.
Mexico năm 2010 cho kết quả, tỉ lệ mắc STIs của PNMD là 36,4% [24]. Năm 2011, nghiên cứu tại Agadir, Nam Morocco trên 372 PNMD cho thấy, tỉ lệ nhiễm STIs trong nhóm PNMD tại Agadir đã tăng đáng kể so với kết quả thu được trong một nghiên cứu tiến hành năm 2007 với 13,8% bị nhiễm giang mai và 11,6% phụ nữ nhiễm trùng roi âm đạo Tricomonas Vaginalis [13]. Nghiên cứu cùa Bea Vuylsteke và cộng sự tiến hành năm 2007 và 2009 trên 1110 PNMD ở các thành phổ khác nhau tại Bờ Biển Ngà cho thấy tỉ lệ đối tượng mắc một trong hai bệnh lậu và Chlamydia cao (9,1%) [15], Tại Ấn Độ, một nghiên cứu tiến hành tại khu vực '■‘đèn đỏ" Surat năm 2000 cho kết quả, tỉ lệ PNMD mắc giang mai là 22,7%, tỉ lệ mắc lậu là 16,9%, có 14,4% mắc bệnh trùng roi và 8,5% đối tượng nhiễm Chlamydia sinh dục [19], A.Singh và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại khu vực “đèn đỏ” lớn nhất Mumbai - Kamathipura từ năm 2002 đến 2010 trên 19458 đối tượng PNMD. Tỉ lệ trường hợp phát hiện 8 nhiễm giang mai là 4,4%, tỉ lệ nhiễm Tricmonas là 1,7%, tỉ lệ nhiễm nấm Candida là 2,7%, tỉ lệ mắc STIs khác là 11,4% [25].
Một nghiên cửu tong quan thực trạng mắc HIV/STIs trên PNMD dựa trên sổ liệu từ 1996 đến 2010 ờ Trung Quốc cho kết quả tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD rất cao, cụ the, trung bỉnh tỉ lệ mac herpes là 56,2%, tỉ lệ mac Chlamydia là 25,7%, tỉ lệ mắc lậu là 16,4%, tỉ lệ mắc giang mai là 6,9%, [23], Kết quả nghiên cứu cắt ngang trên 505 PNMD tại Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc năm 2005 cũng cho thấy tỉ lệ mac STIs cao tuông tự, phổ biến nhất là Chlamydia (58,6%), tiếp theo là trùng roi Trichomonas vaginalis (43,2%) và lậu (37,8%), ti lệ mắc giang mai là 9,5% [18]. Nghiên cứu khác trên PNMD tại Quảng Đông năm 2010 cho thấy, tì lệ mắc STIs nói chung là 19,7%, trong đó, tỉ lệ đối tượng mắc lậu, giang mai và Chlamydia lần lượt là 9,5%, 8,0% và 3,9% [33], Tại Campuchia, trong nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005), tỉ lệ PNMD mắc ít nhất một STI là 24,4%, tỉ lệ mắc lậu là 13%, có 14% đối tượng mắc Chlamydia và 2% nhiễm giang mai [20]. Kết quả nghiên cứu trên PNMD tại Lào năm 2010 cho thấy có 86,7% đối tượng báo cáo là có triệu chứng của STIs trong vòng 3 tháng qua [21]. Tại Việt Nam, kết quả Chương trình Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) năm 2005-2006 cho thấy, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD khá cao.
Trên 7 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Quãng Ninh, Đà Nang, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang có từ 26,2% đến 44,8% PNMD báo cáo có triệu chứng tiết dịch niệu đạo và có 16,3% đến 21,3% báo cáo có đau loét sùi ở bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước điều tra [1]. Tỉ lệ nhiễm giang mai trong nhóm PNMD nhà hàng và đường phố ở Tp.Hồ Chí Minh lần lượt là 7,3% và 9,1%, tại Cần Thơ là 1,0% và 5,6%, tại An Giang là 5,5% và 5,8%. Tỉ lệ nhiễm Chlamydia ở PNMD tại nhà hàng và đường phố lần lượt là 8,5% và 17,5% tại Hà Nội và 6,4% và 14,2% tại thành phố Hồ Chí Minh [1]. Đen năm 2009, Chương trình Giám sát kết họp hành vi vả các chỉ số sinh học IBBS vòng II cho thấy, tỉ lệ hiện nhiễm STIs có xu hướng giảm trong cả hai nhóm PNMD đường phổ và nhà hàng tại Hà Nội; tỉ lệ nhiễm 9 Chlamydia có xu hướng tăng trong nhóm PNMD đường phố ở Hồ Chí Minh (10% năm 2009 so với 6% năm 2006).
Tỷ lệ nhiễm lậu và giang mai ở mức thấp [2], Tại Hải Phòng, trong IBBS II, tỉ lệ PNMD đường phổ tự báo cáo có triệu chứng chảy mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 30,7%, tỉ lệ có triệu chửng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là ] 8,7%. Tỉ lệ PNMD nhà hàng tự báo cáo có triệu chứng chảy mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 22,8%, tỉ lệ có triệu chứng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là 7,7% [1], [2]. Tại Huế, nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý (2005) trên 100 PNMD cho tỉ lệ mắc STIs là 66% [9]. Nghiên cứu cắt ngang của Lý Văn Sơn và cộng sự (2008) tiến hành trên 665 PNMD tại các cơ sở dịch vụ giải trí Thành phố Huế cho thấy tỷ lệ 47,7% đối tượng nghiên cứu mắc STIs; trong đó, 31,9% nhiễm nấm Candida sinh dục: 30,6% mẳc lậu cầu; 27,1% viêm âm đạo vi khuẩn; 8,8% trùng roi sinh dục; 8,2% mac Chlamydia; 3,5% mac Herpes sinh dục; 2,8% giang mai và 0,9% sùi mào gà [11], Tại Đà Nằng, nghiên cứu nãm 2005 trên 201 nữ nhân viên cơ sở vật lý trị liệu tại quận Hải Châu, Đà Nang cho tỉ lệ mắc STIs là 27,9% [12].
Tại Nha Trang, Khánh Hòa, năm 2005, tỉ lệ PNMD tự báo cáo có biểu hiện STIs trong 12 tháng qua là 66,7% (theo Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự) [6]. Nghiên cứu cùa Bùi Thị Mậu tiến hành trên nhóm đối tượng PNMD tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục — Lao động Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2009 cho kết quả, trong 162 PNMD được khám và xét nghiệm, có 67% mắc STIs. Viêm âm đạo và viêm cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao, lần lượt là 85,8% và 58%. STIs gặp nhiêu nhât ở PNMD tham gia nghiên cửu này là lậu (24,1%), kể tiếp là nấm candida (16,7%), chlamydia (9,9%), sùi mào gà (7,4%), herpes sinh dục (4,9%), trùng roi tricomonas (3,7%), giang mai (1,9%) [7], 1.
Một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục cùa phụ nữ mại dâm ❖ ĩ* Tuổi Tuổi là một trong những yếu tố được tìm thấy là có mối liên quan với mắc STIs ở PNMD trong một số nghiên cứu. Trong nghiên cửu của Maria A. Pando và cộng sự tại Argentina, những PNMD cao tuổi có nguy cơ mắc giang mai cao hơn so 10 với những PNMD trẻ hơn với CI 95% OR là 2,6-4,9 [22]. Tại Surat, Ấn Độ, tỉ lệ mắc STIs ở nhóm trên 25 tuổi cao hơn so với nhóm <=25 tuổi (45,8 so với 42,5%) [19].
Nghiên cứu tại Quảng Châu, Trung Quốc lại cho thấy, nhóm PNMD dưới 21 tuôi có nguy cơ màc Chlamydia cao gấp 2 lẩn so với nhóm PNMD trên 30 tuổi (CI 95% OR là 1,2-3,4) [31], Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Bùi Thị Mậu năm 2009 [7], ti lệ PNMD mắc STỈs cao đáng kể trong nhóm PNMD trẻ (dưới 30 tuổi) SO với nhóm từ 30 tuổi trở lên (70,7% so với 48,3%, p=0,02). Một nghiên cứu khác tại Hải Phòng, tiến hành trên một số nhóm người có nguy cơ cao với STIs trong đó có PNMD cho thấy nhóm tuổi trên 40 là nhóm tuổi có tỉ lệ mắc giang mai cao nhất là 5%; nhóm tuổi từ 30-39 có tỉ lệ mắc giang mai thấp nhất 0,2%. Tỉ lệ mắc lậu có xu hướng tăng dần theo độ tuổi, từ 2% ở nhóm dưới 20 tuổi lên 3% ở nhóm 20-29 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 40 tuổi (4,1%) [5].