ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nóng ẩm của châu Á với 3/4 diện tích phần lục địa là đồi núi, trải dài từ Bắc xuống Nam. Những điều kiện tự nhiên nhƣ vậy đã thực sự ƣu đãi cho đất nƣớc ta hệ thống sinh thái rừng với hệ động thực vật rất phong phú và đa dạng. Không chỉ có vai trò là lá phổi xanh điều hòa khí hậu, hệ thực vật rừng còn mang đến một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng cùng với tài nguyên dƣợc liệu nói chung Trải qua lịch sử hơn bốn nghìn năm hình thành và phát triển, nhân dân ta đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tích luỹ kinh nghiệm về mọi mặt trong cuộc sống. Đặc biệt là việc sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho bản thân, cho gia đình và cho cả cộng đồng.
Do sự khác biệt về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những kinh nghiệm, kiến thức khác nhau trong việc sử dụng cây thuốc nam để chữa các loại bệnh. Vƣờn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình là một trong những nơi có tính đa dạng sinh học cao của Việt Nam, đƣợc xếp vào danh sách các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học ƣu tiên trong “Chiến lƣợc bảo tồn vùng sinh thái Trƣờng Sơn” và đƣợc đánh giá là một trong 200 khu vực có tầm quan trọng toàn cầu về bảo tồn đa dạng sinh học (WWF 2000). Với vị trí và tầm quan trọng đó, Vƣờn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của Vƣờn quốc gia là bảo tồn đa dang sinh học và do vậy, nhiều hoạt động bảo tồn đã đƣợc triển khai thực hiện. Vƣờn thực vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở tiểu khu III núi đá Vôi thuộc phân khu dịch vụ hành chính của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và nằm trong địa giới hành chính của xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Cách trung tâm hành chính của VQG khoảng 7 km về phía Tây - Bắc. Tại Vƣờn thực vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng bƣớc đầu đã điều tra đƣợc 134 loài thực vật rừng thuộc 92 chi và 42 họ (Vũ Văn Cần 2007). Tuy nhiên, việc điều tra, nghiên cứu và phân loại các loài thực vật có ích, đặc biệt là các 1 loài thực vật làm thuốc thì chƣa có một đề tài nào chính thức đƣợc thực hiện. Xuất phát từ vấn đề thực tế nói trên, đồng thời để kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa học với hành, tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Thực trạng bảo tồn một số loài cây thuốc tại vườn thực vật vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình”với mong muốn góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển các loài thực vật có giá trị làm thuốc tại Vƣờn thực vật Vƣờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
2 PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ xa xƣa, ngay từ khi xuất hiện con ngƣời đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh. Cùng với sự phát triển, đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, con ngƣời đã đúc rút đƣợc kinh nghiệm chữa bệnh với nhiều bài thuốc dân gian có giá trị, truyền tụng từ đời này sang đời khác. Hiện nay, kho tàng về kiến thức cây thuốc của nhân loại đã trở nên vô cùng phong phú và đa dạng. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới Trên thế giới, vấn đề sử dụng cây thuốc đƣợc xuất hiện rất sớm.
Trung Quốc, Ấn Độ sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh cách đây 3000 đến 5000 năm. Vào thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, ngƣời ta đã biết sử dụng lá chè (Thea sinensis L.) để rữa vết thƣơng và tắm ghẻ … Ngày nay, sự phát triển của ngành khoa học hiện đại, ngƣời ta đã chứng minh ngoài giá trị sử dụng làm thức uống hàng ngày, nƣớc chè xanh còn có tác dụng ngăn chặn sự phát triển các loại ung thƣ gan, dạ dày… nhờ chất Gallat epigallocatachine (Theo báo KH & ĐS số 46,1996). Từ cổ xa xƣa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô Hội (Aloe barbadensis Mill) để rữa vết thƣơng vết loét, chứng lành sẹo mà ngày nay khoa học đã chứng minh dịch cây Lô Hội có tác dụng liền sẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng quá trình biểu mô hoá ” [17,18,19]. Hay kinh nghiệm của ngƣời cổ Hy Lạp và La mã dung vỏ quả óc chó (Juglans regia L.) để chữa vết loét, vết thƣơng…, lâu ngày không liền sẹo.
Ở các nƣớc Nga, Đức, Trung Quốc đã dung cây Mã đề (Plantago major L.) sắc nƣớc hoặc giã lá tƣơi đắp trị vết thƣơng, viêm tiết niệu, sỏi thận. Ở Căm pu chia, Malaixia dùng toàn cây Hƣơng nhu tía (Ocimun sanctum L.) rễ trị đau bụng, sốt rét, nƣớc lá tƣơi trị long đờm hoặc lá giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp. Đầu tiên là những bút kí về Y học của Tarell và cộng sự sau cuộc viễn du miền Đông Dƣơng, nhƣng đây chỉ mới là những tài liệu rời rạc chƣa đƣợc công bố một cách cụ thể. Regnault (1902) đã nghiên cứu một cách cụ thể hơn, ông đã cho xuất bản cuốn sách về nền Y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam, tác phẩm này đã sƣu tầm đƣợc 494 loài cây làm thuốc, và có tên gọi Latinh.
Công 3 trình về dƣợc liệu Việt Nam đƣợc E.Petrot và Paul Hunrier nghiên cứu và cho xuất bản vào năm 1907. Tiếp đó là công trình của nhà thực học ngƣời Pháp Pétélot và Crévost, đƣợc xuất bản gồm 2 tập (1952-1953) về “Cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” Ở Nga, cũng có nhiều nhà thực vật quan tâm nghiên cứu về cây thuốc nhƣ I. Iaxenko, và đã xuất hiện Dƣợc điển, những công trình này ghi lại thành phần cây, con làm thuốc và họ đã đƣa ra đƣợc những phân tích về phƣơng pháp sử dụng thuốc Đông y so với những vị thuốc quen sử dụng. Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đúc rút thành những cuốn sách có giá trị.
Từ đời Hán (168 năm trƣớc CN) tại Trung Quốc trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục” đƣợc NXB Y học trích dẫn 1963. Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dƣợc liệu đã đƣợc công bố và đã đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng (Trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á “Medicinal Plants ò East and Sontheast Asia” 1985. Ngày nay, sự phát triển nhƣ vũ bão của ngành khoa học hiện đại, việc phát hiện nhiều loài cây thuốc để chữa bệnh là điều tất yếu.
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1985 trong khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao đã biết, khoảng 20000 đƣợc sử dụng làm thuốc. Trong đó, Ấn Độ có trên 6000 loài, Trung Quốc trên 5000 loài, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1900 thực vật có hoa, riêng về thực vật có hoa ở một số nƣớc Đông Nam Á đã có tới 2000 loài cây thuốc. Trong những thập kỉ gần đây, sự gia tăng dân số quá nhanh, nhu cầu sử dụng cây thuốc ngày càng nhiều, dẫn đến nhiều loài cây thuốc, đặc biệt là những loài quý hiếm đã bị khai thác đến mức tuyệt chủng. Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100 năm trở lại đây có khoảng 1000 loài thực 4 vật đã bị tuyệt chủng, 60.000 loài có thể gặp rũi ro hoặc sự tồn tại là rất mỏng manh.
Vì vậy, song song với nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách đó là bảo tồn các loài cây thuốc cũng đƣợc đặt ra. Do đó, việc khái thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng mà các nƣớc trên thế giới đều phải hƣớng tới. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là nƣớc có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng. Tổng số loài thực vật đã ghi nhận cho Việt Nam là 10.500 loài, ƣớc đoán hệ thực vật Việt Nam có khoảng 12.
Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30%. Kết quả điều tra nguồn tài nguyên dƣợc liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 của Viện Dƣợc liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn đƣợc dùng làm thuốc. Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có 3. Những cây thuốc có giá trị sử dụng cao, có khả năng khai thác trong tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế cũng nhƣ những cây thuốc đang đƣợc thị trƣờng dƣợc liệu quan tâm gồm có 206 loài cây thuốc có khả năng khai thác.
Hiện nay ngƣời ta có xu hƣớng quay trở về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc thiên nhiên tạo ra hơn là hóa chất làm thuốc. Xu hƣớng này đã tác động đến việc sản xuất, thu hái, chế biến, lƣu thông, tiêu thụ và sử dụng dƣợc liệu thảo mộc. Trong khi các tài liệu tra cứu về cây thuốc chủ yếu đƣợc viết trên sách, do đó hạn chế đối tƣợng sử dụng nhất là không phải là nhà chuyên môn muốn tìm hiểu sử dụng cây thuốc. Nhiều cây thuốc mà dân gian có thể bị nhầm lẫn trong sự xác định loài dựa theo tên phổ thông hay những loài có hình dạng giống nhau, rất dễ nhầm lẫn nếu thiếu sự mô tả tỷ mỉ đặc điểm hình thái và giải phẫu.
Nhƣ chúng ta đã biết, Việt Nam là một đất nƣớc có nền văn hoá và lịch sử lâu đời, có 54 dân tộc ở mỗi vùng khác nhau. Do đó, vấn đề sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh là vô cùng phong phú mang những nét bản sắc riêng của từng vùng, từng nơi. Lịch sử nghiên cứu và phát triển cây thuốc của Việt Nam đƣợc hình thành rất sớm.