Luận án tiến sĩ thực trạng an toàn bức xạ sức khỏe bệnh tật của nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa và hiệu quả một số giải pháp can thiệp

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng an toàn bức xạ, sức khỏe bệnh tật nhân viên y tế tiếp xúc bức xạ ion hóa và hiệu quả giải pháp can thiệp.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2016

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng an toàn bức xạ và sức khỏe nhân viên y tế

Nghiên cứu đánh giá thực trạng an toàn bức xạsức khỏe nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, mặc dù tổng liều hấp thụ hàng năm của nhân viên y tế nằm trong giới hạn cho phép, nhưng vẫn xuất hiện các biến đổi sinh học không mong muốn như giảm số lượng tế bào máu, tăng nguy cơ mắc bệnh lý ác tính. Quản lý bức xạ tại các cơ sở y tế còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc tuân thủ các quy trình an toàn và sử dụng thiết bị bảo hộ. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa tiếp xúc bức xạ và các vấn đề sức khỏe như mệt mỏi, bệnh da liễu và bất thường về tế bào máu.

1.1. Nguy cơ bức xạ và ảnh hưởng sức khỏe

Bức xạ ion hóa có thể gây ra các nguy cơ nghiêm trọng đối với sức khỏe nhân viên y tế, bao gồm giảm tuổi thọ, đục thủy tinh thể và tăng nguy cơ ung thư. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù liều hấp thụ hàng năm nằm trong giới hạn cho phép, nhưng sự cảm nhiễm cá thể khác nhau dẫn đến các biến đổi sinh học không mong muốn. Phòng ngừa bức xạbảo vệ sức khỏe cần được ưu tiên thông qua việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an toàn và sử dụng thiết bị bảo hộ phù hợp.

1.2. Quản lý và giám sát bức xạ

Quản lý bức xạ tại các cơ sở y tế còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc tuân thủ các quy định về an toàn lao động. Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường giám sát bức xạ và đào tạo nhân viên về các biện pháp phòng ngừa bức xạ. Việc sử dụng thiết bị bảo hộ và tuân thủ các quy trình an toàn là yếu tố then chốt để giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc với bức xạ.

II. Giải pháp can thiệp hiệu quả

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện an toàn bức xạsức khỏe nhân viên y tế. Các giải pháp bao gồm tăng cường đào tạo về quản lý bức xạ, cải thiện việc sử dụng thiết bị bảo hộ, và thực hiện các chương trình giám sát bức xạ định kỳ. Kết quả cho thấy, các giải pháp này đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến tiếp xúc bức xạ và cải thiện điều kiện làm việc của nhân viên y tế.

2.1. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Việc đào tạo an toàn và nâng cao nhận thức về nguy cơ bức xạ là yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu tiếp xúc bức xạ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các chương trình đào tạo đã giúp nhân viên y tế hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng ngừa bức xạ và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an toàn.

2.2. Cải thiện thiết bị bảo hộ

Nghiên cứu đề xuất việc sử dụng thiết bị bảo hộ phù hợp và hiện đại để giảm thiểu tiếp xúc với bức xạ ion hóa. Các giải pháp can thiệp đã giúp cải thiện đáng kể việc sử dụng thiết bị bảo hộ, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tiếp xúc bức xạ.

III. Đánh giá rủi ro và chính sách an toàn

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro và thực hiện các chính sách an toàn trong việc quản lý bức xạ ion hóa. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn tại địa phương. Việc thực hiện các chính sách này sẽ giúp đảm bảo an toàn lao độngbảo vệ sức khỏe nhân viên y tế.

3.1. Xây dựng chính sách an toàn

Nghiên cứu đề xuất việc xây dựng và thực hiện các chính sách an toàn dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế như ICRP và IAEA. Các chính sách này cần được áp dụng linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế tại các cơ sở y tế.

3.2. Giám sát và đánh giá rủi ro

Việc giám sát bức xạđánh giá rủi ro định kỳ là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo an toàn bức xạ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các chương trình giám sát và đánh giá rủi ro đã giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến tiếp xúc bức xạ.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng an toàn bức xạ sức khỏe bệnh tật của nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa và hiệu quả một số giải pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tiến bộ của khoa học và công nghệ ngày càng được ứng dụng phục vụ công cuộc chăm sóc sức khỏe con người nhiều hơn. Kỹ thuật hạt nhân và quang tuyến X đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học như công nghiệp, nông nghiệp, y sinh học, khai thác mỏ. Trong y tế, những nguồn năng lượng này ngày càng được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán và điều trị phục vụ người bệnh. Các kỹ thuật chiếu chụp X quang thường quy, kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, chụp xạ hình bằng máy SPECT, PET, PET/CT và xạ trị ngày càng đem lại nhiều lợi ích trong chẩn đoán và điều trị bệnh [62], [63].

Song song với những lợi ích to lớn trong chẩn đoán và điều trị thì bức xạ ion hóa còn có những nguy cơ gây mất an toàn, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiếp xúc và môi trường. Do tính chất nghề nghiệp, nên những nhân viên tiếp xúc với các loại tia xạ kéo dài trong quá trình hành nghề đều có thể chịu ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Mặc dù tổng liều hấp thụ mà họ phải nhận trong một năm có thể vẫn nằm trong giới hạn cho phép, nhưng do sự cảm nhiễm mang tính cá thể khác nhau, nên vẫn có thể xuất hiện một số biến đổi sinh học không mong muốn như giảm số lượng các tế bào máu và tạo máu, giảm tuổi thọ, đục thủy tinh thể, tăng khả năng mắc bệnh lý ác tính. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về an toàn bức xạ (ATBX) tại các cơ sở có sử dụng nguồn bức xạ ion hóa.

Tuy nhiên, tại Việt Nam những nghiên cứu này còn chưa nhiều. Từ những năm 1990, Chính phủ ta đã ban hành một số quy phạm, qui chế về điều kiện làm việc và ATBX phù hợp với qui định của Ủy ban an toàn bức xạ quốc tế và hoàn cảnh kinh tế đất nước. Cụ thể là pháp lệnh về ATBX (6/1996), đến năm 2008 được thay thế bằng luật năng lượng nguyên tử [51], các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành [8], [9], [10]. Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ căn cứ qui định của ICRP và thực tế đất nước đã xây dựng các tiêu chuẩn Việt Nam về ATBX [4], [5], [6].

Căn cứ vào các tiêu chuẩn này đã có một số nghiên cứu đánh giá điều kiện làm việc và thực hiện công tác ATBX tại các cơ sở y tế và ảnh hưởng của môi trường làm việc tới sức khỏe người lao động [2], [27]. Tuy nhiên, 2 những nghiên cứu này mới chỉ mô tả được điều kiện môi trường, sức khỏe nhân viên y tế và đề xuất một số biện pháp dự phòng bệnh tật mà chưa có các nghiên cứu về giải pháp can thiệp mang tính hệ thống. Thái Nguyên là một tỉnh có mạng lưới y tế tương đối phát triển, có đầy đủ các tuyến, có nhiều kỹ thuật sử dụng nguồn năng lượng của bức xạ ion hóa trong các bệnh viện. Từ năm 2004 sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên đã tổ chức điều tra về công tác ATBX tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh cho thấy công tác an toàn bức xạ còn nhiều bất cập [52].

Từ đó đến nay đã có sự gia tăng đáng kể về số cơ sở y tế sử dụng nguồn bức xạ ion hóa, kèm theo là sự gia tăng về số nhân viên y tế (NVYT) tiếp xúc với bức xạ ion hóa [64]. Câu hỏi được đặt ra là vấn đề ATBX ở Thái Nguyên hiện nay và tác động của nó đến NVYT ra sao? Thực trạng sức khỏe của NVYT tiếp xúc với bức xạ ion hóa như thế nào? Cần có những giải pháp nào để đảm bảo an toàn và cải thiện điều kiện làm việc của NVYT tiếp xúc với bức xạ ion hóa?. Xuất phát từ những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng an toàn bức xạ, sức khỏe, bệnh tật của NVYT tiếp xúc với bức xạ ion hóa và hiệu quả một số giải pháp can thiệp”, với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá thực trạng an toàn bức xạ, sức khỏe và bệnh tật của nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa tại Thái Nguyên năm 2012.

Phân tích mối liên quan giữa an toàn bức xạ và sức khỏe của nhân viên y tế tại các cơ sở sử dụng bức xạ ion hóa tại Thái Nguyên. Đánh giá hiệu quả của một số giải pháp can thiệp đảm bảo an toàn bức xạ và sức khỏe của nhân viên y tế tại các cơ sở sử dụng bức xạ ion hóa tại Thái Nguyên. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng an toàn bức xạ, sức khỏe và bệnh tật của nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa 1.

Một số khái niệm cơ bản về an toàn bức xạ Bức xạ là chùm hạt hoặc sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất, nguồn bức xạ là nguồn phóng xạ hoặc thiết bị bức xạ. Trong đó nguồn phóng xạ là chất phóng xạ được chế tạo để sử dụng, không bao gồm vật liệu hạt nhân và thiết bị bức xạ là thiết bị phát ra bức xạ hoặc có khả năng phát ra bức xạ (theo luật Năng lượng nguyên tử) [51]. Bức xạ gồm có bức xạ ion hóa và bức xạ không ion hóa môi trường vật chất. Bức xạ ion hoá bao gồm: các bức xạ ion hóa trực tiếp đó là các hạt mang điện (electron, proton, hạt α,…) có động năng đủ để gây ra hiện tượng ion hóa do va chạm và các bức xạ ion hóa gián tiếp (các hạt neutron, tia X, tia ,…) có thể giải phóng các hạt ion hóa trực tiếp hay biến đổi hạt nhân [26].

Như vậy, bức xạ ion hóa được hiểu là hiện tượng môi trường vật chất bức xạ ra các ion âm, ion dương và các điện tử tự do một cách trực tiếp hay gián tiếp do sự tương tác giữa các nguyên tử, phân tử của môi trường đó với các nguồn chiếu xạ có năng lượng cao. Trong y sinh học, người ta quan tâm đến hai loại bức xạ là bức xạ hạt nhân (tia α, , ) và bức xạ tia X. Hiện tượng phóng xạ là hiện tượng hạt nhân nguyên tử tự biến đổi để trở thành hạt nhân nguyên tử của nguyên tố khác, hoặc từ một trạng thái năng lượng cao về trạng thái năng lượng thấp hơn, trong quá trình biến đổi đó hạt nhân phát ra những tia không nhìn thấy được có năng lượng cao gọi là tia phóng xạ hay bức xạ hạt nhân [63]. Năng lượng nguyên tử là năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc [51].

4 An toàn bức xạ là việc thực hiện các biện pháp chống lại tác hại của bức xạ, ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả của chiếu xạ đối với con người, môi trường [51]. Thiết bị ghi đo bức xạ là phương tiện, dụng cụ để đo liều bức xạ, hoạt độ phóng xạ, xác định đồng vị phóng xạ. Cơ sở bức xạ là nơi tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ cho phép đặt nguồn bức xạ và thường xuyên tiến hành công việc bức xạ [24]. Nhân viên bức xạ y tế là những bác sỹ, điều dưỡng viên, y tá, hộ lý, dược sỹ, dược tá, kỹ sư, kỹ thuật viên, hộ sinh tại các cơ sở y tế làm việc trực tiếp với các thiết bị bức xạ hoặc các nguồn phóng xạ kín, nguồn phóng xạ hở hoặc chăm sóc người bệnh được điều trị bằng các đồng vị phóng xạ hoặc phải làm việc trong khu vực có chiếu xạ tiềm tàng với mức liều lớn hơn 1 mSv/năm hoặc trong khu vực có nguy cơ bị nhiễm bẩn phóng xạ (theo Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT) [14].

Người đứng đầu cơ sở y tế là người chủ sở hữu hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền của người đại diện theo pháp luật để quản lý cơ sở y tế [14]. Sự cố bức xạ và hạt nhân. Ứng phó sự cố là việc áp dụng mọi biện pháp ứng phó nhanh chóng, kịp thời nhằm giảm thiểu hậu quả của sự cố gây ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe của con người, gây thiệt hại về môi trường và tài sản. Kế hoạch ứng phó sự cố là văn bản quy định về các nguyên tắc hoạt động, phân công trách nhiệm, cơ chế điều hành và phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân tham gia ứng phó sự cố; đánh giá các nguy cơ; đưa ra các quy trình ứng phó chung; việc chuẩn bị sẵn sàng ứng phó sự cố nhằm giảm thiểu các hậu quả do sự cố gây ra [10].

Liều chiếu xạ là đại lượng đo mức độ chiếu xạ [51]. Trong đó đơn vị quốc tế của liều tương đương là Sievert (Sv), thứ nguyên là mSv và Sv [60]. Nguồn phát bức xạ Có thể phân chia thành 2 loại nguồn bức xạ ion hóa chính: bức xạ tự nhiên và bức xạ nhân tạo. Bức xạ tự nhiên là những nguồn bức xạ có sẵn trong tự nhiên phát ra từ bức xạ vũ trụ, bức xạ của các đồng vị có sẵn trong không khí và mặt đất.

Ngoài ra nó còn có thể có trong thức ăn, nước uống, vật dụng đồ đạc hay chính từ cơ thể con người. Bức xạ nhân tạo từ các nguồn phát tia hay từ phản ứng hạt nhân [48], [113]. Bức xạ tự nhiên Hàng ngày, con người bị chiếu một lượng bức xạ từ môi trường xung quanh (bức xạ tự nhiên) từ 4 nguồn chính: bức xạ vũ trụ (8%), bức xạ nền đất đá (8%), bức xạ không khí (chủ yếu khí Radon: 55%), nhiễm xạ tự nhiên trong cơ thể (trong thức ăn, nước uống: 11%) [59], [60]. Theo Ủy ban khoa học của Liên hợp quốc về ảnh hưởng của bức xạ nguyên tử thì liều trung bình hàng năm từ bức xạ tự nhiên là 2,4 mSv/năm.

Một số vùng có phông phóng xạ tự nhiên cao như Ramsar (Iran), Guarapari (Braxin), Karunagappalli (Ấn Độ), Arkaroola (Nam Úc) hay Dương Giang (Trung Quốc), nơi cao nhất có thể đạt 90 µGy/h [100]. Bức xạ tự nhiên bao gồm: Bức xạ vũ trụ: đến từ mặt trời và dải thiên hà nhưng hầu hết bị cản lại bởi bầu khí quyển bao quanh trái đất. Liều chiếu do bức xạ vũ trụ không đồng đều ở các vùng địa lý khác nhau, phụ thuộc vào độ cao và vĩ độ. Trên đỉnh núi cao cường độ phóng xạ lớn hơn nhiều so với mặt biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thực Trạng An Toàn Bức Xạ Và Sức Khỏe Nhân Viên Y Tế Tiếp Xúc Bức Xạ Ion Hóa: Giải Pháp Can Thiệp Hiệu Quả" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình an toàn bức xạ trong ngành y tế, đặc biệt là đối với nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc với bức xạ ion hóa. Tài liệu nêu rõ các rủi ro sức khỏe mà nhân viên y tế có thể gặp phải, đồng thời đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm bảo vệ sức khỏe cho họ. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà quản lý y tế mà còn cho các nhân viên y tế, giúp họ nhận thức rõ hơn về các biện pháp an toàn cần thiết trong công việc hàng ngày.

Để mở rộng thêm kiến thức về an toàn bức xạ trong y tế, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ chính sách công giải pháp an toàn bức xạ tại các cơ sở y tế khảo sát trên địa bàn tỉnh đắk lắk. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các chính sách và giải pháp an toàn bức xạ được áp dụng tại các cơ sở y tế, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.