Tổng quan nghiên cứu

Ứng dụng bức xạ ion hóa trong y học mang lại bước tiến vượt bậc cho công tác chẩn đoán hình ảnh và điều trị bệnh, nhưng đồng thời tiềm ẩn nhiều nguy cơ sinh học nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2011 đến 2015, cơ quan quản lý trung ương đã xử lý 42 đơn vị vi phạm quy chuẩn an toàn bức xạ, trong khi các cơ quan địa phương xử lý 219 trường hợp từ năm 2011 đến 2014. Tại Đắk Lắk, địa bàn có 54 cơ sở y tế vận hành 112 thiết bị X-quang chẩn đoán, công tác thanh tra từ năm 2012 đến 2016 đã ghi nhận và nhắc nhở 31 đơn vị có thiếu sót trong quy trình bảo đảm an toàn.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ sự bất cập giữa tốc độ phát triển công nghệ chẩn đoán hình ảnh và năng lực tuân thủ các quy định an toàn của đội ngũ nhân viên y tế trực tiếp vận hành. Đề tài tập trung khảo sát toàn diện điều kiện làm việc cùng thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của 145 nhân viên bức xạ tại 54 cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2017. Phạm vi khảo sát trải rộng từ đô thị trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột với 24 cơ sở y tế đến các trung tâm y tế tại 14 huyện, thị xã vùng sâu.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác, làm căn cứ hoạch định chính sách môi trường và quản lý y tế tại địa phương. Kết quả đề tài giúp các nhà quản lý thiết lập mục tiêu kiểm soát liều chiếu nghề nghiệp dưới giới hạn 20 mSv mỗi năm và liều công chúng dưới 1 mSv mỗi năm, đồng thời bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng hơn 1,853 triệu dân tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Nhận thức, Thái độ và Thực hành trong việc phân tích hành vi an toàn lao động y tế, kết hợp với các nguyên tắc an toàn bức xạ theo tiêu chuẩn quốc tế của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và Ủy ban Quốc tế về An toàn Phóng xạ. Bốn khái niệm trọng tâm xuyên suốt công trình bao gồm: bức xạ ion hóa, an toàn bức xạ, liều hấp thụ tính bằng Gray và liều hiệu dụng tính bằng Sievert.

Khung phân tích xem xét tác động của các biến đặc điểm cá nhân như thâm niên, trình độ đào tạo, loại hình công tác đến mức độ tuân thủ quy chuẩn bảo vệ sức khỏe. Ngoài ra, nghiên cứu áp dụng phương pháp xếp hạng thứ tự kết hợp phương pháp trọng số cộng đơn giản để xác định thứ tự ưu tiên của nhân viên y tế đối với các phương án tự bảo vệ bản thân khi tiếp xúc với nguồn bức xạ ion hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình sử dụng thiết kế nghiên cứu điều tra cắt ngang với nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong 6 tháng đầu năm 2017. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hai bộ công cụ khảo sát: Phiếu số 1 đánh giá điều kiện vật chất tại 54 cơ sở y tế và Phiếu số 2 phỏng vấn trực tiếp 145 nhân viên bức xạ với 20 câu hỏi kiến thức, 16 câu hỏi thái độ và 14 câu hỏi thực hành theo thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo quản lý năng lượng nguyên tử và các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Y tế.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 54 cơ sở y tế có máy chụp X-quang và 145 nhân viên bức xạ trực tiếp tham gia vận hành, đạt tỷ lệ 95,4% trên tổng số 152 nhân viên toàn tỉnh sau khi đã tiến hành điều tra thử nghiệm trên 16 người tại thành phố Buôn Ma Thuột. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho quần thể nghiên cứu tại địa phương. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng, áp dụng kiểm định Shapiro-Wilk để kiểm tra phân phối chuẩn và kiểm định Levene để đánh giá tính đồng nhất phương sai. Nghiên cứu sử dụng kiểm định tham số t-test, ANOVA cho dữ liệu phân phối chuẩn, đồng thời kết hợp kiểm định phi tham số Mann-Whitney và Kruskal-Wallis cho các nhóm mẫu nhỏ không đồng nhất nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học trong phân tích thống kê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích mẫu khảo sát gồm 127 nam giới chiếm 87,6% và 18 nữ giới chiếm 12,4%, trong đó 92 nhân viên thuộc khu vực y tế nhà nước chiếm 63,4% và 53 nhân viên thuộc khu vực ngoài nhà nước chiếm 36,6%. Phân bố theo thâm niên làm việc cho thấy 85 nhân viên có thời gian tiếp xúc bức xạ dưới 10 năm, chiếm tỷ lệ 58,6% tổng số đối tượng khảo sát. Về mặt địa lý, 24 cơ sở tập trung tại thành phố Buôn Ma Thuột chiếm tỷ trọng 44,4% số cơ sở toàn tỉnh.

Điểm số kiến thức an toàn bức xạ của nhân viên y tế chỉ đạt mức dưới trung bình khi tỷ lệ đạt điểm giỏi từ 14 trên 20 điểm trở lên còn ở mức thấp. Đánh giá về thái độ ghi nhận kết quả ở mức trung bình, trong khi điểm thực hành an toàn đạt mức trung bình khá với điểm bình quân nằm trong khoảng từ 3,41 đến 4,20 điểm. Khi áp dụng phương pháp trọng số cộng đơn giản, 100% nhân viên khảo sát xếp phương án trang bị phương tiện bảo hộ cá nhân là ưu tiên số 1 để bảo vệ sức khỏe khi làm việc. Phân tích định lượng khẳng định 3 mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với chỉ số p nhỏ hơn 0,05: mối liên hệ giữa vị trí công tác với điểm thực hành, mối liên hệ giữa việc chọn ưu tiên bảo hộ cá nhân với kết quả thực hành, và mối tương quan thuận giữa điểm thái độ với hành vi thực hành an toàn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng kiến thức an toàn bức xạ còn hạn chế bắt nguồn từ cơ cấu trình độ chuyên môn, khi có tới 62 nhân viên có trình độ từ trung cấp trở xuống, chiếm tỷ lệ 42,8%, trong khi nhân sự có trình độ sau đại học chỉ đạt 20 người, tương đương 13,8%. Sự khác biệt giữa các bệnh viện công lập tuyến tỉnh và các phòng khám tư nhân tuyến huyện dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong việc đo đạc kiểm xạ định kỳ và trang bị liều kế cá nhân.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu khác, tỷ lệ nhận thức an toàn bức xạ tại Đắk Lắk có nét tương đồng với một khảo sát tại Bệnh viện Đại học Kênh đào Suez ở Ai Cập khi chỉ có 23,7% bác sĩ đạt điểm kiến thức tốt, nhưng thấp hơn đáng kể so với kết quả 60,2% ghi nhận tại tỉnh Thái Nguyên và 70% tại khu vực miền Trung. Để trực quan hóa các mối quan hệ này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện hiệu quả qua biểu đồ cột so sánh điểm kiến thức giữa các nhóm trình độ học vấn, kết hợp với bảng phân tích chéo thể hiện mức độ tương quan giữa thái độ và hành vi thực hành của nhân viên tại hai khu vực y tế công và tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức đào tạo và tái bồi dưỡng định kỳ nghiệp vụ an toàn bức xạ. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk cần chủ trì phối hợp cùng Sở Y tế xây dựng kế hoạch tập huấn định kỳ 2 năm một lần, bảo đảm 100% nhân viên vận hành thiết bị X-quang được cấp chứng chỉ an toàn bức xạ hợp lệ trước quý 4 năm 2018.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động chuyên dụng. Ban Giám đốc các cơ sở y tế trên địa bàn cần đầu tư kinh phí hoàn thiện lớp chì che chắn phòng máy chụp X-quang, trang bị tối thiểu 2 bộ áo chì, yếm chì che chắn tuyến giáp và kính chì bảo vệ mắt cho mỗi phòng chụp, hoàn thành kiểm tra độ lọt tia bức xạ đạt chuẩn 100% vào cuối năm 2018.

Thứ ba, kiểm soát nghiêm ngặt liều chiếu xạ tích lũy và sức khỏe nhân viên y tế. Người phụ trách an toàn tại 54 cơ sở y tế có trách nhiệm gửi đánh giá liều kế cá nhân theo định kỳ 3 tháng một lần, kết hợp tổ chức khám sức khỏe chuyên khoa và xét nghiệm công thức máu định kỳ 1 năm một lần cho 145 nhân viên, bảo đảm liều hấp thụ không vượt quá giới hạn 20 mSv mỗi năm.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực thanh tra liên ngành và xử lý vi phạm hành chính. Đoàn thanh tra liên ngành giữa ngành Khoa học Công nghệ và ngành Y tế cần triển khai kế hoạch kiểm tra tối thiểu 80% số cơ sở bức xạ y tế mỗi năm từ năm 2018 đến 2020, hướng tới mục tiêu giảm 50% số cơ sở vi phạm quy chuẩn an toàn so với con số 31 đơn vị vi phạm trong giai đoạn 2012 đến 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk cùng các địa phương lân cận trong khu vực Tây Nguyên: Dữ liệu thực chứng từ 54 cơ sở giúp các nhà hoạch định xây dựng quy chuẩn quản lý môi trường phóng xạ cục bộ và tối ưu hóa quy trình cấp phép thiết bị y tế.

Nhóm lãnh đạo bệnh viện, giám đốc trung tâm y tế và chủ các phòng khám tư nhân: Luận văn cung cấp khung hướng dẫn chuẩn hóa điều kiện phòng chụp X-quang, cách thức bố trí trang thiết bị bảo hộ và phương pháp giám sát liều kế định kỳ cho hơn 100 vị trí kỹ thuật viên vận hành.

Nhóm bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật viên X-quang và nhân viên y tế làm việc trong môi trường bức xạ: Tài liệu giúp nhân viên nhận thức rõ các tác hại sinh học mạn tính, hiểu đúng ý nghĩa của liều hấp thụ dưới 20 mSv mỗi năm và tuân thủ việc mang liều kế cá nhân trong 100% ca làm việc.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Khoa học Môi trường và Y tế công cộng: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra xã hội học kết hợp xử lý thống kê đa biến trên phần mềm phân tích, tạo tiền đề mở rộng khảo sát sang các cơ sở chiếu xạ công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Nhân viên bức xạ y tế chịu những giới hạn liều chiếu an toàn nào theo quy định hiện hành? Theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử và khuyến cáo quốc tế, giới hạn liều hiệu dụng nghề nghiệp đối với nhân viên bức xạ từ 18 tuổi trở lên là 20 mSv mỗi năm tính trung bình trong 5 năm liên tiếp, và không được vượt quá 50 mSv trong một năm đơn lẻ bất kỳ. Đối với công chúng, mức giới hạn tối đa là 1 mSv mỗi năm.

Thực trạng nhận thức về an toàn bức xạ của nhân viên y tế tại Đắk Lắk đạt mức độ nào? Kết quả khảo sát 145 nhân viên y tế trên địa bàn tỉnh cho thấy điểm số kiến thức an toàn bức xạ ở mức dưới trung bình khi tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi chuyên sâu còn thấp. Điểm thái độ đạt mức trung bình, trong khi điểm thực hành đạt mức trung bình khá, phản ánh sự cần thiết phải mở rộng các khóa tập huấn chuyên môn định kỳ.

Phương pháp bảo vệ nào được nhân viên bức xạ lựa chọn ưu tiên hàng đầu khi làm việc? Dựa trên kết quả phân tích theo phương pháp trọng số cộng đơn giản từ 5 lựa chọn an toàn, 100% nhân viên y tế được khảo sát đã chọn phương án trang bị phương tiện bảo hộ cá nhân là ưu tiên số 1, vượt qua các phương án về rút ngắn thời gian làm việc hoặc tăng khoảng cách đứng máy.

Trình độ học vấn và vị trí công tác ảnh hưởng như thế nào đến hành vi thực hành an toàn? Phân tích thống kê cho thấy có mối liên hệ mật thiết giữa vị trí công việc và điểm thực hành an toàn với chỉ số p nhỏ hơn 0,05. Nhóm 20 nhân sự có trình độ sau đại học thể hiện mức độ tuân thủ quy trình kiểm xạ và đeo liều kế cao hơn đáng kể so với nhóm 62 nhân sự có trình độ trung cấp.

Cần thực hiện những biện pháp kỹ thuật nào đối với phòng đặt máy X-quang để bảo vệ môi trường? Phòng máy chụp X-quang bắt buộc phải được bọc chì che chắn đạt chuẩn, trang bị cửa đóng kín có gắn đèn cảnh báo bức xạ màu đỏ, dán biển cảnh báo nguy hiểm và niêm yết quy trình vận hành rõ ràng. Cơ sở y tế phải tổ chức kiểm định máy X-quang định kỳ và đo kiểm xạ khu vực làm việc 1 lần mỗi năm để ngăn ngừa rò rỉ tia phóng xạ ra không gian bên ngoài.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành khảo sát toàn diện 54 cơ sở y tế và 145 nhân viên bức xạ, phản ánh bức tranh thực trạng an toàn bức xạ y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2017.
  • Công trình chỉ rõ kiến thức an toàn bức xạ của nhân viên y tế còn ở mức dưới trung bình, trong khi thái độ đạt mức trung bình và thực hành an toàn đạt mức trung bình khá.
  • Nghiên cứu chứng minh 3 mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa vị trí công tác, ưu tiên trang bị bảo hộ cá nhân và điểm thái độ đối với hành vi thực hành an toàn bức xạ thực tế.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất hướng đến mục tiêu 100% nhân viên y tế được đào tạo cấp chứng chỉ và duy trì liều chiếu dưới 20 mSv mỗi năm trong giai đoạn 2018 đến 2020.
  • Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học tin cậy hỗ trợ các nhà quản lý y tế và môi trường tại địa phương ban hành các chính sách kiểm soát phóng xạ nghiêm ngặt; các đơn vị y tế cần khẩn trương áp dụng ngay các giải pháp kỹ thuật và kiểm tra định kỳ nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người lao động và bệnh nhân.