CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN a. Dịch vụ y tế (DVYT): DVYT là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể tự mình lựa chọn một cách chủ động các loại dịch vụ theo ý muốn chủ quan mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng hay còn gọi là cơ sở y tế (CSYT). Khi người bệnh có nhu cầu thì việc chỉ định điều trị như thế nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định.
Người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, hoặc có thể là người điều trị chứ không thể lựa chọn được phương pháp điều trị. Đặc tính của DVYT là hàng hóa gắn liền với tính mạng con người nên mặc dù không có tiền nhưng vẫn phải khám chữa bệnh (mua) [18]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), DVYT được định nghĩa là tất cả các dịch vụ liên quan đến phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh hoặc chương trình nâng cao, cải thiện và phục hồi sức khỏe. Chúng bao gồm các DVYT cá nhân và không cá nhân, DVYT là những chức năng dễ thấy nhất của bất kỳ hệ thống y tế nào, cho cả những người sử dụng nói riêng và cộng đồng nói chung.
KCB là một trong những cấu phần quan trọng của DVYT [152]. Hoặc theo một định nghĩa khác của TCYTTG thì DVYT là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động CSSK cho cộng đồng, con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người với chăm sóc sức khỏe (CSSK) [11,39]. Theo tác giả Trương Bảo Thanh, DVYT chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tế công cộng như phòng 4 chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm [61]. Tóm lại có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới các khía cạnh khác nhau nhưng nội hàm của khái niệm DVYT được hiểu là một loại hàng hóa đặc biệt không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sử dụng/người bệnh nhằm đáp ứng các nhu cầu về CSSK của con người bao gồm khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi sức khỏe.
Dịch vụ KCB: Theo qui định của Luật Khám chữa bệnh (2009) thì khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [55]. Tiếp cận DVYT: Tiếp cận DVYT là một phạm trù khó để xác định. Một số tác giả khác lại cho rằng tiếp cận có liên quan đến việc sử dụng kịp thời các dịch vụ theo nhu cầu [88] hay phân biệt trong nội hàm khái niệm tiếp cận DVYT giữa việc cung cấp và cơ hội sử dụng dịch vụ và thực tế sử dụng DVYT [125].
Peters đã đưa ra một khung khái niệm về tiếp cận DVYT bao gồm 4 phương diện cơ bản bao hàm cả yếu tố cung ứng và sử dụng, đó là: - Tiếp cận khoảng cách địa lý hay là thời gian đi từ điểm cung cấp dịch vụ tới người sử dụng. 5 - Tiếp cận về tính sẵn có - có đúng loại dịch vụ cho những người cần nó, chẳng hạn như giờ làm việc và thời gian chờ đợi có thể đáp ứng nhu cầu của những người sẽ sử dụng dịch vụ, cũng như có những cơ sở cung cấp loại hình dịch vụ phù hợp… - Tiếp cận tài chính - mối quan hệ giữa giá dịch vụ và khả năng sẵn sàng chi trả của người sử dụng để trả tiền cho các dịch vụ, cũng như được bảo vệ khỏi những hậu quả của chi phí y tế. - Sự chấp nhận - sự phù hợp giữa cách đáp ứng của bên cung cấp dịch vụ với những mong muốn về mặt văn hóa, xã hội của các cá nhân sử dụng dịch vụ và cộng đồng. Sử dụng dịch vụ KCB: Là khả năng những người khi có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB được mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các CSYT công lập hay y tế tư nhân cung cấp [68].
Yếu tố ảnh hưởng: Daniel Reidpath định nghĩa một yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe là “một yếu tố gây ra sự thay đổi về sức khỏe theo hướng tốt lên hoặc xấu đi”[30]. Như vậy có thể hiểu rằng yếu tố ảnh hưởng là những yếu tố gây ra sự thay đổi về một vấn đề nào đó theo hướng tốt lên hay xấu đi. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DVYT 1. Sử dụng DVYT trên thế giới Ở các quốc gia, các nước nghèo có xu hướng ít được tiếp cận, sử dụng DVYT hơn so với những nước giàu có.
Gánh nặng bệnh tật ở những nước thu nhập thấp và trung bình (LMICs) chiếm tới 90% gánh nặng bệnh tật toàn cầu nhưng chi tiêu toàn cầu về sức khỏe chỉ chiếm có 12%. Các quốc gia thu nhập cao chi tiêu bình quân cho sức khỏe/đầu người cao gấp khoảng 100 lần so với các nước có thu 6 nhập thấp (3.039 USD so với 30 USD) [102]. Vì thế, không ngạc nhiên khi mật độ nhân viên y tế và giường bệnh cho mỗi người dân ở các nước LMICs thấp hơn nhiều so với các nước có thu nhập cao. Điều này làm giảm sự sẵn có của DVYT cho rất nhiều người nghèo trên thế giới [131].
Hơn nữa, càng ở những quốc gia nghèo thì tổng chi cho sức khỏe từ tiền túi (OOP) của người dân lại càng lớn. Tính trung bình, hơn 60% chi tiêu ít ỏi ở các nước có thu nhập thấp là từ tiền túi, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 20% [102]. Đây là một trong những rào cản hạn chế khả năng tiếp cận, sử dụng DVYT của người dân, đặc biệt là người nghèo. Sử dụng DVYT ở những nước đã phát triển Tần suất sử dụng và sự khác biệt trong tiếp cận, sử dụng DVYT: Mặc dù ở các nước phát triển, chi tiêu y tế bình quân đầu người cao hơn, cung ứng dịch vụ được đáp ứng tốt hơn so với các nước đang phát triển nhưng tần suất sử dụng DVYT cũng rất khác biệt giữa các nước.
Nghiên cứu sử dụng điều tra cắt ngang (năm 2009) về tình hình sử dụng KCB ngoại trú trong thời gian 3 tháng và điều trị nội trú trong 12 tháng của trẻ em dưới 5 tuổi ở Brazil cho thấy 54% có đi khám BS, 8% tư vấn qua điện thoại, 34% sử dụng dịch vụ cấp cứu và trong đó 11% phải nhập viện. Trẻ em ở nhóm kinh tế xã hội giàu thì đi khám bác sĩ (BS) nhiều hơn, ít tư vấn qua điện thoại và sử dụng dịch vụ cấp cứu nhiều hơn so với trẻ từ nhóm trung bình trở xuống [144]. Ngay ở một số nước châu Âu thì tần suất sử dụng DVYT của người cao tuổi cũng thay đổi tùy theo loại hình dịch vụ được cung cấp. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về việc sử dụng dịch vụ CSSK và phòng bệnh của người già trong vòng 1 năm trước thời điểm điều tra được tiến hành tại 10 nước phát triển (Úc, Đan mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ) năm 2004.
Kết quả từ nghiên cứu này đã cho thấy một bức tranh tương đối tổng thể về tình hình sử dụng dịch vụ CSSK của người cao tuổi ở châu Âu như sau: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú từ 4 lần trở lên chiếm 52%; Tỷ lệ gặp bác sĩ gia đình từ 4 lần trở lên là 46%; Tỷ lệ gặp bác sĩ chuyên khoa ít nhất một lần trong năm chiếm 7 93,1%; Tỷ lệ sử dụng dịch vụ điều trị nội trú ít nhất một lần chiếm 11,3%. Ở tất cả những loại hình DVYT, những người cao tuổi có biểu hiện trầm cảm thì có tỷ lệ sử dụng DVYT cao hơn hẳn so với nhóm người cao tuổi không có biểu hiện trầm cảm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch vụ phòng bệnh như tiêm phòng cúm chiếm 52,8%; Sàng lọc ung thư trực tràng chiếm 16,8%; Sàng lọc ung thư vú chiếm 53%. Ở Mỹ, phụ nữ trẻ và trẻ vị thành niên là những đối tượng thường sử dụng các DVYT cung cấp bởi bác gia đình và bác sĩ chuyên khoa sản-phụ khoa.
Nghiên cứu về tình hình sử dụng DVYT của phụ nữ trẻ và vị thành niên ở những phòng khám bác sĩ và phòng mạch tư tại Mỹ năm 2009 cho thấy: mô hình sử dụng DVYT chung và dịch vụ liên quan tới chăm sóc sức khỏe sinh sản tăng theo tuổi. Số lượt sử dụng dịch vụ khám bệnh tại các phòng khám CSSK ban đầu tăng từ 4,9 triệu lượt ở lứa tuổi từ 9-10 lên 9 triệu lượt ở lứa tuổi 25-26. Tỷ lệ khám bác sĩ gia đình tăng 25% ở lứa tuổi 9-10 và 30% ở lứa tuổi 25-26. Đối với lứa tuổi 17-18, có tới 33% số lượt thăm khám bệnh được thực hiện bởi bác sĩ sản phụ khoa (33% trong số 7 triệu lượt) và bác sĩ gia đình là 34%, trong khi đó bác sĩ nhi khoa chỉ là 23%.
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ về sức khỏe sinh sản cao (SKSS) nhất ở nhóm tuổi từ 20-21 với 53% (7,5 triệu lượt thăm khám) [113]. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách trong xác định ưu tiên can thiệp nhằm tăng cường chất lượng và tính sẵn có của các dịch vụ chăm sóc SKSS. Ngay ở Úc thì vẫn tồn tại sự khác biệt trong mô hình sử dụng DVYT giữa những người sống ở khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Người dân ở khu vực xa thành phố và ở khu vực hẻo lánh sử dụng dịch vụ chăm sóc ban đầu (CSBĐ) tại khoa cấp cứu của bệnh viện nhiều hơn so với người dân sống ở thành phố.