Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện tại hải phòng

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp can thiệp bỏ điều trị methadone cho bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện tại Hải Phòng.

Trường đại học

Đại học Y Dược Hải Phòng

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

243
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Thực trạng sử dụng ma túy trên thế giới và Việt nam

1.2. Tác động đến sức khỏe, gia đình và xã hội

1.3. Yếu tố liên quan đến nghiện các ma túy

1.4. Điều trị nghiện ma túy

1.5. Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone

1.6. Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị methadone

1.7. Một số can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị methadone

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Thu thập thông tin

2.4. Phương pháp xử lý số liệu

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị methadone tại Hải Phòng

3.2. Tỷ lệ bỏ điều trị ở bệnh nhân điều trị methadone trong 3 năm

3.3. Một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị methadone

3.4. Hiệu quả can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị cho bệnh nhân

3.5. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

3.6. Hỗ trợ của đồng đẳng viên

3.7. Hỗ trợ của cán bộ y tế

3.8. Tăng cường tuân thủ điều trị methadone

3.9. Cải thiện chất lượng cuộc sống

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị methadone tại Hải Phòng

4.2. Tỷ lệ bỏ điều trị ở bệnh nhân điều trị methadone trong 3 năm

4.3. Một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị methadone

4.4. Hiệu quả can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị cho bệnh nhân

4.5. Hỗ trợ của đồng đẳng viên và cán bộ y tế

4.6. Tuân thủ điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

4.7. Điểm mới và hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 01: Đồng thuận tham gia nghiên cứu bệnh chứng

Phụ lục 02: Phiếu phỏng vấn nghiên cứu bệnh chứng

Phụ lục 03: Đồng thuận tham gia nghiên cứu can thiệp

Phụ lục 04: Phiếu phỏng vấn bệnh nhân trước và sau nghiên cứu can thiệp

Phụ lục 05: Mẫu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án

Phụ lục 06: Các bài giảng cập nhật kiến thức

Phụ lục 07: Tờ rơi truyền thông

Phụ lục 08: Xác nhận của các cơ sở thu thập số liệu

Phụ lục 09: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Phụ lục 10: Một số hình ảnh triển khai nghiên cứu

Tóm tắt

I. Nghiên cứu thực trạng bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng

Nghiên cứu thực trạng bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng tập trung vào việc phân tích tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị Methadone trong giai đoạn 2014-2016. Kết quả cho thấy tỷ lệ bỏ điều trị dao động từ 15-20%, với nguyên nhân chính bao gồm khoảng cách địa lý, thiếu hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, cũng như tác dụng phụ của Methadone. Thực trạng điều trị Methadone tại Hải Phòng phản ánh những thách thức trong việc duy trì tuân thủ điều trị, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có tiền sử sử dụng ma túy lâu dài.

1.1. Tỷ lệ bỏ điều trị Methadone

Tỷ lệ bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng được ghi nhận ở mức cao, đặc biệt trong năm đầu tiên điều trị. Nguyên nhân chính bao gồm khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị, thiếu hỗ trợ từ gia đình và tác dụng phụ của Methadone. Tình trạng bỏ điều trị Methadone cũng liên quan đến yếu tố tâm lý và xã hội, như sự kỳ thị và thiếu hiểu biết về lợi ích của điều trị.

1.2. Yếu tố liên quan đến bỏ điều trị

Các yếu tố liên quan đến bỏ điều trị Methadone bao gồm tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và tình trạng sức khỏe tâm thần. Bệnh nhân trẻ tuổi và có trình độ học vấn thấp có xu hướng bỏ điều trị cao hơn. Ngoài ra, sự hiện diện của các bệnh lý tâm thần như lo âu và trầm cảm cũng làm tăng nguy cơ bỏ điều trị.

II. Giải pháp can thiệp bỏ điều trị Methadone

Giải pháp can thiệp được đề xuất nhằm giảm tỷ lệ bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng bao gồm việc tăng cường hỗ trợ từ đồng đẳng viên và cán bộ y tế. Các chương trình giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng cũng được triển khai để nâng cao nhận thức về lợi ích của điều trị Methadone. Can thiệp Methadone hiệu quả cần kết hợp giữa hỗ trợ tâm lý và cải thiện điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế.

2.1. Hỗ trợ từ đồng đẳng viên

Hỗ trợ từ đồng đẳng viên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tuân thủ điều trị Methadone. Các đồng đẳng viên, những người đã từng trải qua quá trình điều trị, có thể chia sẻ kinh nghiệm và động viên bệnh nhân tiếp tục điều trị. Điều này giúp giảm tỷ lệ bỏ điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2.2. Cải thiện hỗ trợ y tế

Cải thiện hỗ trợ từ cán bộ y tế bao gồm việc cung cấp thông tin đầy đủ về tác dụng và tác dụng phụ của Methadone, cũng như theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Các cán bộ y tế cần được đào tạo để có thể hỗ trợ tâm lý và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình điều trị.

III. Đánh giá hiệu quả can thiệp

Hiệu quả can thiệp được đánh giá thông qua việc giảm tỷ lệ bỏ điều trị Methadone và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Kết quả cho thấy các chương trình can thiệp đã giúp giảm tỷ lệ bỏ điều trị từ 20% xuống còn 10% trong vòng 2 năm. Giải pháp Methadone tại Hải Phòng đã chứng minh tính hiệu quả trong việc duy trì tuân thủ điều trị và cải thiện sức khỏe tâm thần của bệnh nhân.

3.1. Giảm tỷ lệ bỏ điều trị

Các giải pháp can thiệp đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng. Sự kết hợp giữa hỗ trợ từ đồng đẳng viên và cán bộ y tế đã tạo ra môi trường điều trị thuận lợi, giúp bệnh nhân duy trì tuân thủ điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống.

3.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống

Các chương trình can thiệp không chỉ giúp giảm tỷ lệ bỏ điều trị mà còn cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bệnh nhân được hỗ trợ tâm lý và xã hội đã có sự cải thiện rõ rệt về sức khỏe tâm thần và khả năng tái hòa nhập cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện tại hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) đứng đầu danh sách các chất gây ra các vấn đề về gánh nặng bệnh tật và liên quan đến tử vong [151]. Điều này là do mối quan hệ giữa sử dụng ma túy với sức khỏe tâm thần [117], tiêm chích ma túy, HIV/AIDS [61, 154], viêm gan [98, 141] và tử vong do quá liều [43, 69, 163]. Trƣớc đây, Việt Nam có các hình thức cai nghiện tại cộng đồng, gia đình và các trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội với biện pháp bắt buộc và tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ lệ tái nghiện cao (>90%) sau hết thời gian cai nghiện khoảng 2 năm [31].

Năm 2008, Việt Nam thí điểm chƣơng trình điều trị nghiện các CDTP bằng methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh [32]. Chƣơng trình thí điểm cho thấy điều trị methadone rất hiệu quả trong việc kiểm soát nghiện heroin và đƣợc chấp thuận để mở rộng dịch vụ ra các tỉnh, thành khác trong cả nƣớc [32]. Năm 2013, chính phủ Việt nam phê duyệt đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 [26]. Đến 3/2017 cả nƣớc có 280 cơ sở methadone tại 63 tỉnh, thành phố, điều trị cho 51.318 ngƣời bệnh [10].

Lợi ích của điều trị methadone: giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp; giảm lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C; giảm tử vong do tiêm chích quá liều; cải thiện chất lƣợng cuộc sống (CLCS) của ngƣời nghiện; cải thiện mối quan hệ của ngƣời nghiện với gia đình và cộng đồng; giảm các hành vi phạm tội [78] và tiết kiệm chi phí cho các vấn đề khác phát sinh nhƣ vấn đề pháp luật, y tế. Để đạt đƣợc thành công này đòi hỏi bệnh nhân cần tuân thủ điều trị theo quy định của chƣơng trình điều trị [5, 6]. Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dƣợc lý tƣơng tự các CDTP khác (đồng vận) nhƣ heroin [6]. Do vậy, khi bệnh nhân nghiện các -2- CDTP đƣợc điều trị bằng methadone ở liều thỏa đáng, bệnh nhân sẽ không còn có nhu cầu sử dụng heroin.

Ngƣợc lại, tuân thủ kém hay liều methadone không thỏa đáng có thể làm tăng đáng kể nguy cơ sử dụng ma túy bất hợp pháp và dẫn đến thất bại điều trị [76]. Bệnh nhân đến cơ sở uống thuốc hàng ngày là tiêu chí quan trọng để đánh giá tuân thủ điều trị [5, 6]. Tuân thủ kém có thể làm tăng đáng kể nguy cơ tái nghiện và dự đoán thất bại điều trị [76]. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thấp [80, 125, 140, 166], giảm dần theo thời gian tham gia điều trị [1, 76, 87, 125, 159] và phụ thuộc nhiều vào các hoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị từ phía cơ sở điều trị, gia đình, bạn bè, ngƣời cùng uống methadone và xã hội [5, 6].

Mô hình điều trị methadone hiện nay đã có trên cả nƣớc [10] và ngày càng đƣợc mở rộng [26], do vậy nghiên cứu thực trạng tuân thủ điều trị, nhất là bỏ điều trị ở bệnh nhân điều trị methadone ổn định cũng nhƣ tìm các yếu tố liên quan đến bỏ điều trị là vấn đề cần thiết để từ đó xây dựng các biện pháp can thiệp nhằm tăng cƣờng tuân thủ điều trị và hiệu quả của chƣơng trình. Vấn đề đặt ra là thực trạng bỏ điều trị methadone của bệnh nhân tại Hải phòng hiện nay nhƣ thế nào? Yếu tố nào liên quan đến tình trạng bỏ điều trị methadone tại Hải phòng? Giải pháp can thiệp giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng tại Hải Phòng có hiệu quả nhƣ thế nào? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện tại Hải Phòng, 2014 - 2016” với mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng bỏ điều trị methadone tại Hải Phòng năm 2014-2015 2. Đánh giá hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng tại cơ sở điều trị methadone -3- Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.

Thực trạng sử dụng ma túy trên thế giới và Việt nam. Trên thế giới. Đến năm 2013, Văn phòng liên hiệp quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) ƣớc tính, trên thế giới có 246 triệu ngƣời, hoặc cứ 20 ngƣời có một ngƣời sử dụng một loại ma túy trái phép ở độ tuổi từ 15 đến 64 tuổi. Tƣơng đƣơng 5,2% dân số sử dụng ma túy.

Có khoảng 27 triệu ngƣời hoặc 0,6% dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 sử dụng ma túy có vấn đề bao gồm các rối loạn do sử dụng ma túy và sự lệ thuộc vào ma túy [151]. Mức độ sử dụng ma túy bất hợp pháp khác nhau theo giới tính và các quốc gia [152]. Số lƣợng ngƣời sử dụng ma túy (triệu ngƣời) Tỷ lệ trong dân số chung 14-65 tuổi (%) Số lƣợng sử dụng ma túy Tỷ lệ sử dụng ma túy có vấn đề (%) Số lƣợng sử dụng ma túy có vấn đề Tỷ lệ sử dụng ma túy (%) Hình 1.1: Số lƣợng và tỷ lệ ngƣời sử dụng ma túy bất hợp pháp năm 2006- 2013 [151] Mặc dù việc sử dụng các CDTP trên thế giới nói chung ổn định. Nhƣng tại châu Mỹ và châu Âu, việc sử dụng cocain đã giảm trong khi việc sử dụng cần sa và opioid ngoài mục đích y tế tiếp tục tăng.

Việc sử dụng chất kích thích loại Amphetamine (ATS) thay đổi tùy vùng, một số khu vực nhƣ Đông Nam Á đã báo cáo gia tăng tình trạng sử dụng methamphetamine. Các chất hƣớng thần mới (NPS) đƣợc bán trên thị trƣờng thay thế cho các loại thuốc bị -4- kiểm soát và các ma túy truyền thống. Nó có tiềm năng gây nguy hiểm nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn xã hội. Các thông tin và nghiên cứu về tác hại của các chất hƣớng thần mới còn giới hạn, nhƣng ƣớc tính có khoảng 500 loại, bao gồm cả mephedrome, đặt ra mối đe dọa cho sức khỏe ngƣời sử dụng ma túy và tăng nhu cầu điều trị nghiện các chất hƣớng thần mới.

Mức độ sử dụng ma túy có vấn đề - những ngƣời sử dụng thƣờng xuyên hoặc nghiện - là 27 triệu ngƣời [151]. Ma tuý nhóm Opioids (chất dạng thuốc phiện): là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dƣợc lý tƣơng tự thuốc phiện (Opiates), bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadone, Levo- alpha- acetyl-methadon (LAAM).1: Ƣớc tính sử dụng các loại ma túy trên toàn cầu, năm 2013 [151] Tỷ lệ % ngƣời dân Số lƣợng ngƣời sử sử dụng ma túy dụng ma túy (nghìn) Thấp Cao Thấp Cao Cần xa 2,7 4,9 128,480 232,070 Opioids 0,6 0,8 27,990 37,560 Opiaids 0,3 0,4 12,920 20,460 Cocain 0,3 0,4 12800 20,730 Amphetamines 0,3 1,1 13.870 53,870 Ecstasy 0,2 0,6 9,340 28,390 Tất cả ma túy bất hợp pháp 3,4 7,0 162,000 329,000 Năm 2014, ƣớc tính khoảng 32,4 triệu ngƣời sử dụng các CDTP tƣơng ứng với 0,7% dân số thế giới, chỉ đứng thứ hai sau cần sa [151]. Ở các nƣớc châu Á, hàng năm có 1,9% số ngƣời ở độ tuổi 15-64 tuổi sử dụng cần sa, tiếp theo là ATS (không bao gồm "thuốc lắc") là 0,7%, "thuốc lắc" 0,4 %, thuốc phiện 0,35% và cocain 0,05% [152]. Tại Việt Nam Năm 2015, Chính phủ thống kê có 201.180 ngƣời nghiện ma túy có hồ sơ quản lý [14].

Số ngƣời sử dụng ma túy thực tế sẽ cao hơn số liệu thống kê đƣợc vì còn nhiều ngƣời sử dụng ma túy không bộc lộ tình trạng của bản thân với gia đình và /hoặc xã hội [4]. Trong đó chủ yếu là nam giới (94%), dƣới 30 tuổi (70%). Ma túy đƣợc ghi nhận có 4 nhóm: heroin, thuốc phiện, Canabis và Amphetamine loại ATS, nhƣng sử dụng nhiều nhất là heroin (70%) và chủ yếu sử dụng qua đƣờng tiêm chích. Có khoảng 65% tổng số ngƣời nghiện ma túy là sử dụng qua đƣờng tiêm chích, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này là 42%.

Ngƣời nghiện ma túy đã có trên 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phƣờng, thị trấn trên cả nƣớc. Loại ma túy đƣợc sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi phức tạp. Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trƣớc đây, heroin hiện là loại ma túy đƣợc sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có tới 96,5% ngƣời nghiện thƣờng xuyên sử dụng heroin trƣớc khi tham gia cai nghiện. Mặc dù tỷ lệ ngƣời nghiện CDTP và các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS hay ma túy tổng hợp) tƣơng đƣơng nhau, khoảng 1,2% - 1,4% nhƣng theo đánh giá của UNODC, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hƣớng gia tăng trong ngƣời nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm ½ số ngƣời lạm dụng loại ma túy này trên toàn thế giới.

Việc gia tăng lạm dụng các loại ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm ngƣời nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn [155]. Nhƣ vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hƣớng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại -6- ma túy mới, hình thức sử dụng ma túy không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV. Tác động đến sức khỏe, gia đình và xã hội 1. Tác động đến sức khỏe của người sử dụng ma túy Có hàng triệu ngƣời TCMT khắp thế giới.

Trong số những ngƣời sử dụng ma túy, ngƣời TCMT là một trong những nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thƣơng. Họ thƣờng khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, kinh tế xã hội và pháp luật, không ít trong số họ có nguy cơ tử vong cao hơn so với dân số nói chung. UNODC, Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chƣơng trình HIV/AIDS của liên hiệp quốc (UNAIDS) và Ngân hàng thế giới (WB) ƣớc tính năm 2013 trên toàn thế giới có khoảng 12.000 ngƣời TCMT, tƣơng đƣơng với 0,26% dân số ở lứa tuổi từ 15-64 [151].2: Ƣớc tính số lƣợng và tỷ lệ ngƣời TCMT trong dân số chung ở độ tuổi 15-64 [151] Người tiêm chích ma túy Vùng Số lượng ước tính Tỷ lệ % Tiểu vùng Trung Trung Thấp Cao Thấp Cao bình bình Châu Phi 330.000 0,56 0,65 0,75 Mỹ la tinh và Caribean 370.000 0,12 0,16 0,21 Trung tâm Châu Á 360.000 0,66 0,75 0,87 Đông và Đông Nam Á 2.000 0,45 0,67 1,02 Đông và Đông Nam Âu 1.000 0,78 1,27 2,09 Tây và trung tâm Âu 710.000 0,22 0,24 0,26 Châu Đại Dương 120.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị Methadone tại Hải Phòng là một tài liệu quan trọng phân tích tình hình bệnh nhân từ bỏ điều trị Methadone, một phương pháp điều trị nghiện ma túy phổ biến. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả, giúp cải thiện tỷ lệ tuân thủ điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, bác sĩ và những người quan tâm đến lĩnh vực y tế công cộng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến tuân thủ điều trị, bạn có thể tham khảo Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các nghiên cứu về can thiệp y tế, Khảo sát nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2023 cũng là một tài liệu đáng đọc. Cuối cùng, để hiểu sâu hơn về các phương pháp điều trị hiện đại, hãy xem Nghiên cứu hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn mới và bổ sung kiến thức chuyên sâu.