CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, “Bồi thường” là “Đền bù những tổn hại gây ra”.[18] Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trách nhiệm này xuất hiện trong nhiều ngành luật như: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động… Đối với lĩnh vực Luật đất đai nói riêng, thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp sau đó, Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Đặc biệt khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội động Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất rừng khi chuyển sang sử dụng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào mục đích khác, thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và các nghị định hướng dẫn thi hành, có thể kể đến như Nghị định số 90/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi NN thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 22/04/1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi NN thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng… Mặc dù pháp luật không đưa ra giải thích chính thức xong có thể hiểu “đền bù thiệt hại” khi NN thu hồi đất là việc trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, tương xứng với giá trị hoặc công lao mà người SDĐ đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng. Khi đề cập đến thuật ngữ “đền bù” thiệt hại người ta hay nghĩ đến việc đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu hồi. Trong khi đó, thuật ngữ “bồi thường” lại cho thấy rằng NN chỉ bồi thường những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất cho người SDĐ khi bị NN thu hồi đất.
Mặt khác, nội hàm của thuật ngữ “đền bù” chỉ là việc NN đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra cho người SDĐ mà không đi liền sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ, tái định cư. Do đó, khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản đi kèm. Tiếp tục kế thừa Luật Đất đai 2003, thuật ngữ “bồi thường” cũng được sử dụng tại các văn bản luật đất đai hiện hành: Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 43/2014/ NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/ NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất, Thông tư số 37/2014/TT- BTNMT ngày 30/06/2014 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất… 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Khoản 12 Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 có giải thích về thuật ngữ “bồi thường” như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Như vậy, song song với việc thu hồi đất, NN tiến hành bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người SDĐ bị thu hồi.
Việc bồi thường được NN tiến hành trên cơ sở trả lại giá trị quyền SDĐ được tính bằng tiền đối với diện tích đất thực tế bị thu hồi. Từ khái niệm trên, có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như sau: - Bồi thường khi NN thu hồi đất cũng là một loại trách nhiệm nhưng đây không phải là trách nhiệm dân sự mà là trách nhiệm NN. Loại trách nhiệm này chỉ được đặt ra khi NN có hành vi thu hồi đất. Nói cách khác, bồi thường về đất là hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của NN.
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ do hành vi thu hồi đất của NN gây ra. Trách nhiệm này được quy định trong Luật đất đai; - Bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của NN gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan NN có thẩm quyền; - Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa một bên là NN (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của NN gây ra; - Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích thực tế bị thu hồi; thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và khung giá đất do NN quy định tại thời điểm thu hồi đất; - Người SDĐ khi bị NN thu hồi đất muốn được bồi thường phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định; - Người bị Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà còn được BTTH về tài sản trên đất và được hưởng các chính sách hỗ trợ, tái định cư của NN nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
Bên cạnh thuật ngữ bồi thường, trong các văn bản pháp luật hiện hành còn đề cập đến khái niệm hỗ trợ khi NN thu hồi đất. Tại Luật Đất đai năm 2013, Khoản 14 Điều 4 có giải thích: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”. Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước, biểu hiện bản chất “của dân, do dân và vì dân” của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người dân vị thu hồi đất, thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới…giúp đỡ một phần nào rủi ro mà họ phải gánh chịu đồng thời nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất. Phân biệt giữa thu hồi đất với trưng thu, trưng dụng đất Trưng thu đất, trưng dụng đất và thu hồi đất là những khái niệm khá quen thuộc và được áp dụng nhiều trên thực tiễn.
Mặc dù đây là ba cơ chế gắn liền với pháp luật đất đai ở nước ta, gắn liền với công cuộc đổi mới kinh tế, lợi ích công cộng của quốc gia. "Thu hồi đất hay trưng dụng đất đều dẫn đến hệ quả pháp lý là làm thay đổi quan hệ pháp luật quyền sử dụng đất. Theo đó, quyền sử dụng đất sẽ được chuyển dịch từ phía người sử dụng đất sang Nhà nước bằng các thủ tục hành chính nhất định. Tuy nhiên, xét về bản chất thì giữa thu hồi đất và trưng thu, trưng dụng đất là hoàn toàn khác nhau" [32, trang 78].
Thứ nhất, về khái niệm trưng thu đất, trưng dụng đất và thu hồi đất Đối với cơ chế trưng thu đất thì vấn đề trưng thu đất đã được đặt ra tại cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập. được Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm1953–1956. Từ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau năm 1975 đến nay, việc trung thu, trưng mua chủ yếu thực hiện trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh. Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật cụ thể nào quy định riêng về cơ chế trưng thu đất.
Do đó, có thể hiểu khái niệm trưng thu đất: trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước lấy đất và có bồi thường theo thời giá thị trường cho cá nhân, tổ chức bị trưng thu đất. Trưng dụng cũng được định nghĩa là việc cơ quan nhà nước tạm lấy đi (vật hoặc người thuộc quyền sở hữu hay quyền quản lý của tư nhân, tập thể hay cơ quan, xí nghiệp cấp dưới) để sử dụng trong một thời gian nào, một công việc nào đó, do yêu cầu đặc biệt. Hoặc “Trưng dụng là biện pháp hành chính cho phép một cơ quan nhà nước với điều kiện có bồi thường, buộc tư nhân phải cho nhà nước sử dụng một động sản hay bất động sản trong một thời gian nhất định”.