phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 03 chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp Chƣơng 2. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre. Kết luận và kiến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát chung về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội 1. Quan niệm về khu công nghiệp Trên thế giới hiện nay có hai mô hình phát triển khu công nghiệp, từ đó cũng hình thành hai quan điểm khác nhau về khu công nghiệp:5 Quan điểm 1: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng, có dân cư sinh sống trong khu công nghiệp. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ.
Khu công nghiệp theo quan điểm này thực chất là khu hành chính-kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. Quan điểm 2: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác. Theo quan điểm này, một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp với quy mô khác nhau và Việt Nam cũng đang áp dụng mô hình này trong phát triển các khu công nghiệp. Tại Việt Nam, quan niệm về khu công nghiệp đã hình thành từ khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tư tưởng, chính sách, pháp luật về phát triển khu công nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quy định 5 Nguyễn Thị Thu Thủy, Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Hà Nội, 2018, tr. 8 về khu công nghiệp đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Quá trình ghi nhận quy định về khu công nghiệp thể hiện cái nhìn đúng, rõ hơn bản chất của khu công nghiệp.
Có thể khái quát một số quy định của pháp luật Việt Nam về khu công nghiệp như sau: - Nghị định 192-CP ngày 28/12/1994 về ban hành Quy chế Khu công nghiệp quy định: khu công nghiệp là khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống (Điều 2). - Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ về ban hành Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất (Khoản 1 Điều 2). - Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quan niệm khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 1 Điều 2). Quy định pháp luật hiện hành về khu công nghiệp được quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế xác định khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 1 Điều 2).
Bên cạnh quy định nội dung của khu công nghiệp còn có quy định thêm các loại khu công nghiệp như khu chế xuất,6 khu công nghiệp hỗ trợ,7 6 Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điểm a Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế). 9 khu công nghiệp sinh thái.8 Điểm khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành về khu công nghiệp là ở chỗ tập trung làm rõ điểm khác biệt của khu công nghiệp là ở một khu vực địa lý nhất định có chức năng “chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Có thể khẳng định cách tiếp cận này là phù hợp với xu hướng chung của các nước, đồng thời phân biệt khu công nghiệp với các khu, cụm công nghiệp tập trung khác.
Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội Thứ nhất, tạo lập không gian phát triển công nghiệp tập trung, tránh phát triển manh mún, thiếu tập trung. Hiện 220 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, 105 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng. Tỷ lệ lấp đầy chung các khu công nghiệp đạt 51%, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73%. Vùng Đông Nam Bộ có số khu công nghiệp được thành lập nhiều nhất với 111 khu công nghiệp (chiếm 34%); vùng đồng bằng sông Hồng có 85 và và Tây Nam Bộ có 52 khu công nghiệp.9 Thứ hai, có thể hình thành nhóm/cụm doanh nghiệp có cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, từ đó các doanh nghiệp có thể tận dụng hoặc chia sẻ các lợi thế của mình cho các doanh nghiệp trong cùng không gian hoạt động tập trung.
Một trong những vai trò quan trọng của khu công nghiệp là việc hình thành được hệ thống các doanh nghiệp (trong một không gian, vùng địa lý nhất định) mà ở đó, các doanh nghiệp tận dụng lợi thế của các doanh nghiệp khác trong cùng một không gian, từ đó góp phần tiết kiệm chi phí kinh doanh và rút ngắn hơn các quy trình/khâu kinh 7 Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp (Điểm b Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế). 8 Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp (Điểm c Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế). 9 Nguyễn Minh Phong, Những đột phá cần có trong phát triển các khu kinh tế và khu công nghiệp.
Nguồn: <http://www.vn/kinhte/thoi_su/item/32430902-nhung-dot-pha-can-co-trong-phat-trien-cac- khu-kinh-te-va-khu-cong-nghiep. 10 doanh, từ đó giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như của các hệ thống doanh nghiệp cùng ngành nghề kinh doanh trong khu công nghiệp. Thứ ba, khu công nghiệp giúp khai thác tối đa nguồn tài nguyên đất đai – loại tài sản bị giới hạn bởi không gian và là loại tài nguyên khan hiếm. Nếu các doanh nghiệp phát triển trải rộng ở nhiều không gian địa điểm khác nhau sẽ gây ra tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên đất đai do phải đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật riêng biệt.
Khi phát triển hệ thống khu công nghiệp, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được sử dụng hệ thống hạ tầng phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động. Nói cách khác, trên cùng diện tích đất và một hệ thống hạ tầng, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tận dụng, khai thác tối đa nguồn lực đất đai của quốc gia cũng như của từng địa phương. Thứ tư, khu công nghiệp sẽ thu hút nguồn lực kinh tế (vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường), nhân lực tập trung, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế (thông qua đóng góp thuế cho ngân sách địa phương) và phát triển xã hội (thông qua thu hút các lực lượng xã hội, trong đó có trí thức, lao động có tay nghề cao, từ đó từng bước hình thành lối sống công nghiệp hoặc các khu đô thị tập trung). Các khu công nghiệp, khu chế xuất đã phát huy được lợi thế về kết cấu hạ tầng đồng bộ, thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, theo đó, thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn cả trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Hàng năm, số lượng vốn FDI đầu tư vào khu công nghiệp chiếm khoảng từ 60-70% tổng vốn đầu tư FDI thu hút được của cả nước. Trung bình trong giai đoạn 2011-2015, các khu công nghiệp thu hút được khoảng 40.000 tỷ đồng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước.