Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách Bảo hiểm xã hội, Bao hiểmy tế. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Chương Mỹ. Giải pháp thực thi chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế hướng tới bao phủ toàn dân trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO HIẾM XÃ HỘI, BẢO HIẾM Y TE 1.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm chính sách Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều van dé, nhiều lĩnh vực; nhiều định nghĩa về chính sách từ những hướng tiếp cận khác nhau. Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề (Anderson 1984). Chính sách là một phần của khung khổ các ý kiến, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc song (Colebatch 2002).
Chính sách là quá trình ma một xã hội tao ra va quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không (Wheelan 201 1). Tổng hợp tất cả các cách tiếp cận trên đây về chính sách, trong cuốn Giáo trình Khoa học chính sách, PGS.Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyên lực hoặc chủ thể pháp lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích họ nhằm thực hiện một mục tiêu uu tiên nào đó trong chiến lược phát triển xã hội ”. Theo Bách khoa toàn thư mở wikipedia tiếng Việt: “Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dan các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bồ về y định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức ”.
Từ những khái niệm trên, theo tôi chính sách là quyết định tạo ra sự ưu dai của chủ thé quản ly doi với đối tượng quan lý trong một phạm vì nhất định, nhằm đạt được mục tiêu phát triển mà chủ thể quản lý mong muốn. Khái niệm chính sách công Có nhiều cách tiếp cận và đưa ra định nghĩa về “Chính sách công” như: Chính sách công là chính sách do chủ thể quyền lực là nha nước ban hành (hoạch định và thực thi), là một tuyên bố mang tính quyền lực về những dự định của Chính phủ, dựa trên những giả thuyết về nguyên nhân và ảnh hưởng, và được thiết kế, cấu trúc dựa trên những mục tiêu (Althaus, Bridgman & Davis 2007). Chính sách công là tất cả những gì mà Chính phủ quyết định thực hiện hoặc không thực hiện” (Thomas R. Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” (B.
Chính sách công là việc thực thi mang tính quyền lực nhà nước thông qua sử dụng các nguồn lực công và ràng buộc pháp lý mà lĩnh vực tư không thể (Maddison & Denniss 2009). Chính sách công là phương thức mà các chính tri gia, những người trực tiếp hoạch định chính sách, tạo ra sự khác biệt. Chính sách công là công cụ của Chính phủ. Nó là kết quả của một sự thoả thuận, đàm phán, cạnh tranh giữa các ý tưởng, các lợi ích, các hệ tư tưởng tác động thúc đây hệ thống chính trị (Althaus, Bridgman & Davis 2013).
Chính sách công là những hành động ứng xử của nhà nước với các vấn dé phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thé hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhăm thúc đây xã hội phát triển (Nguyễn Hữu Hải, 2010). Tuy có những nội dung khác nhau, song về cơ bản trong nội hàm khái niệm về “Chính sách” và “Chính sách công” mà các học giả Phương Tây đưa ra có một số nét tương đồng đó là: Chính sách là các kế hoạch, chiến lược do Nhà nước hoặc những người có thâm quyền ban hành; Chính sách là một quá trình gồm một loạt các hành 18 động; Chính sách có mục đích, mục tiêu rõ ràng đã được xác định. Chính sách là sự “phân phối” mang tính “thẩm quyền” (Authority) đối với giá trị xã hội. Qua đó, cũng có thé thấy Chính sách công một số dau hiệu quan trọng đặc trưng của chính sách công là: Do nhà nước (cơ quan công quyên) hoạch định và thực thi; có mục đích công cộng (tác động vào xã hội); được thực thi bằng các nguôn lực Nhà nước.
Khác với Chính sách tư” là những chính sách do các tô chức ngoai nhà nước, doanh nghiệp tư nhân tự hoạch định và xây dựng, ban hành và thực hiện dé giải quyết những van dé trong khu vực tư (nội bộ tổ chức và doanh nghiệp đó) và luôn phải tuân theo pháp luật (Chính sách của Nhà nước). Thực thi chính sách công Thực thi đơn giản là thực hiện hay tiến hành; từ khái niệm nêu ở trên ta thay được chủ thé thực thi chinh sách công là cán bộ, công chức trong cơ quan công quyên (cơ quan nhà nước); trong đó phẩm chất, năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước quyết định tính hiệu quả của chính sách và để thực hiện tốt chính sách còn có trách nhiệm của các tô chức, cá nhân trong xã hội. Thực thi chính sách được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ ba trong số bốn giai đoạn của chu trình chính sách công, bao gồm: Hoạch định chính sách; xây dựng chính sách; thực hiện chính sách; đánh giá chính sách (một chính sách được đánh giá dé điều chỉnh hoặc thay đổi, khởi đầu một CS mới). Thực thi chính sách công là một giai đoạn rất quan trọng trong chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của quá trình thực thi chính sách.
Trong thực thi chính sách có thê phát sinh nhuưng vấn đề như: Có những chính sách không được thực thi (do nhiều nguyên nhân); có chính sách được thực thi qua loa, miễn cưỡng hoặc thực thi sai; có chính sách được thực thi nửa vời, kiểu “đầu voi đuôi chuột”. Do vậy cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về thực thi chính sách. 19 Trong thực thi chính sách có xảy ra các khả năng: Chính sách công tốt (chính sách đúng, phù hợp, kịp thời) và thực thi tốt dẫn đến thành công: Chính sách công tốt nhưng thực thi không hiệu quả; Chính sách công không tốt và thực thi cũng không tốt, dẫn đến thất bại toàn diện. Như vậy, thực thi chính sách công có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách công, nó là giai đoạn hiện thực hóa các mục tiêu chính sách công.
Các yếu tổ ảnh hưởng tới hiệu quả thực thi chính sách công - Yếu tô thuộc về chất lượng của chính sách: Dù chính sách ở cấp nào ban hành, hướng tới đối tượng nào thì nội dung chính sách phải có tính rõ ràng, mạch lạc của chính sách, các thuật ngữ phải rõ ràng, rễ hiểu; thê hiện rõ khía cạnh chính trị, xã hội của văn bản chính sách, thé hiện được quan điểm của chính sách; tránh các lỗi về kỹ thuật lập pháp, tính bất hợp lý và sai phạm về nội dung. - Yếu tô thuộc về khả năng thực hiện: Trước tiên phải nói tới là năng lực của tổ chức; năng lực con người như: bộ máy, nhân sự, lãnh đạo, quan lý mà trong đó phẩm chất, năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước quyết định tính hiệu quả của chính sách và dé thực hiện tốt chính sách còn có trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Cùng với đó là yếu tố năng lực tài chính, vật chất, thông tin tương tác và tác động rất lớn tới quá trình thực thi và kết quả thực thi chính sách đó. Song song đó là các yếu tố tiêu cực, rào cản trong thực thi chính sách công như: Thủ tục hành chính rườm rà; sự thiếu đồng thuận trong các nhóm xã hội (nhóm hưởng lợi, nhóm bị thiệt, nhóm vô can) tạo ra nhiễu loạn thông tin.
- Bối cảnh về kinh tế - xã hội tạo ra môi trường chính sách: Một nhân tố ánh hưởng quan trọng đến hiệu quả thực thi chính sách đó là môi trường chính sách bao gôm môi trường kinh tê, chính trị, văn hóa và xã hội. Việc 20 thực thi bất cứ chính sách nào cũng đều nằm trong sự ảnh hưởng và chế ước của môi trường xung quanh. Môi trường thích hợp sẽ có lợi cho việc thực thi chính sách. Môi trường không thích hợp sẽ cản trở việc thực thi chính sách.
Cụ thê, nếu trình độ kinh tế phát triển, nhất là kinh tế thị trường phát triển thì cơ quan thực thi chính sách càng có điều kiện dé thu hút nguồn lực cho thực thi chính sách; trình độ văn hóa và sự hiểu biết của người dân sẽ tạo thuận lợi cho việc thực thi chính sách và ngược lại; dự luận xã hội, tính tự chủ và sự phát triển của các tô chức xã hội cũng anh hưởng đến thực thi chính sách. - Thái độ của các nhóm lợi ích; công luận: Sự ủng hộ hay sự phản đối của công luận đối với chính sách. Khi chính sách được ban hành và thực thi, nếu được công luận tiếp nhận và ủng hộ thì thực thi chính sách sẽ hiệu quả. Chính sách có đạt được mục đích đề ra hay không, không chỉ phụ thuộc vào chất lượng chính sách và năng lực của chủ thê thực thi chính sách, mà còn phụ thuộc vào thái độ công luận, các nhóm trong xã hội (kế cả nhóm được hưởng lợi, nhóm bị thiệt, nhóm vô can).
Theo đó, nếu đối tượng chính sách tiếp nhận và ủng hộ chính sách thì việc thực thi chính sách sẽ thuận lợi và hiệu quả. Còn nếu đối tượng chính sách không tiếp nhận chính sách, không ủng hộ chính sách thì việc thực thi sẽ khó khăn, kém hiệu quả. - Sự ủng hộ của cấp trên: Các điều kiện về thiết chế, quan điểm tạo sự hậu thuẫn cho thực thi chính sách; các thiết chế càng rễ hiểu, rõ ràng thì hệ thống, đội ngũ thực thi sẽ thực hiện thuận lợi. Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 1.
Khái niệm chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội 1.