phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về quyền công dân trong lĩnh vực dân sự. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền công dân trong lĩnh vực dân sự ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. 7 Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CÔNG DÂN TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ 1. Khái niệm chung 1. Thực hiện pháp luật Trước hết, trong khoa học pháp lý thì “thực hiện pháp luật” là giai đoạn quan trọng không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật, là giai đoạn thứ hai trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, tiếp sau giai đoạn xây dựng pháp luật. Thực hiện pháp luật là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu, vì pháp luật sẽ chỉ là những quy định trên giấy nếu nó không được thực hiện trong thực tế cuộc sống.
Pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống. Nói cách khác, có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cũng mới chỉ là có được một yếu tố cần của nhà nước pháp quyền, nhưng chưa đủ. Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân, đòi hỏi pháp luật phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và công bằng theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật [2]. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm về “Thực hiện pháp luật”.
Có quan điểm cho rằng, thực hiện pháp luật “là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [2]. Hoặc thực hiện pháp luật “là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [2]. Hay thực hiện pháp luật “là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật thành những hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [2]. Quan điểm khác thì cho rằng thực hiện pháp luật “là hiện tượng, quá trình 9 có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [24].
Như vậy, có thể thấy, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, góp phần đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Có bốn hình thức thực hiện pháp luật như sau: Một là, tuân thủ pháp luật: là chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật cấm. Tuân thủ pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện. Hai là, thi hành pháp luật: là một hệ thống mà một số thành viên của xã hội hành động theo một phong cách có tổ chức để thực thi pháp luật bằng cách khám phá, ngăn chặn, phục hồi hoặc trừng phạt những người vi phạm luật lệ và các quy tắc chi phối xã hội đó.
Ba là, sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền và tự do pháp lý của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Bốn là, áp dụng pháp luật: là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể. Quyền công dân trong lĩnh vực dân sự Quyền của công dân bao gồm các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và các quyền tự do cá nhân. Muốn được hưởng các quyền công dân của một nhà nước thì công dân đó phải có quốc tịch của nhà nước sở tại.
Các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, điểu chỉnh những quan hệ quan trọng giữa công dân và nhà nước, là sự thừa nhận các hành vi hợp pháp của công dân trong mối quan hệ với nhà nước và xã hội. 10 Quyền công dân trong lĩnh vực dân sự gắn liền với vị trí, vai trò của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Quyền công dân trong lĩnh vực dân sự là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân và cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong tố tụng dân sự. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công dân được hưởng các quyền con người, quyền công dân về mọi lĩnh vực trong đời sống như chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền ấy đều được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thế nhưng, trong một số trường hợp quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quyền công dân trong lĩnh vực dân sự không tách rời nghĩa vụ công dân. Nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiểu là những việc pháp luật quy định bắt buộc công dân phải làm đối với xã hội, đối với người khác. Các nghĩa vụ của công dân cũng được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do đó mối quan hệ Nhà nước - công dân là mối quan hệ qua lại cùng có trách nhiệm. Mối quan hệ Nhà nước - công dân đó thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Các nghĩa vụ của nhà nước được xác định trong Hiến pháp nói riêng, trong pháp luật nói chung dưới hình thức các nhiệm vụ của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước cụ thể hoặc dưới hình thức các quyền công dân và những đảm bảo của nó. Còn trách nhiệm của công dân đối với nhà nước và xã hội được ghi trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật dưới hình thức nghĩa vụ công dân.
Các quyền và nghĩa vụ công dân được ghi nhận trong Hiến pháp được gọi là các quyền và nghĩa vụ cơ bản, trước hết vì nó xác định những mối quan hệ cơ bản nhất giữa nhà nước và công dân, vì những quyền và nghĩa vụ ấy 11 được qui định trong luật cơ bản của nhà nước. Bởi lẽ đó, các quyền và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu, có ý nghĩa quyết định để xác định vị trí pháp lý của công dân. Đó là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân, ở mọi cấp độ và trong mọi ngành luật. Chúng ta có thể định nghĩa quyền và nghĩa vụ cơ bản của mọi công dân như sau: Quyền cơ bản là khả năng của mỗi công dân được tự do lựa chọn hành động.
Khả năng đó được nhà nước ta ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Nghĩa vụ cơ bản là sự tất yếu phải hành động của mỗi công dân vì lợi ích của toàn thể Nhà nước và xã hội. Sự tất yếu đó được Nhà nước qui định trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả biện pháp cưỡng chế. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm:“bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”[15].
Việc nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người nói chung, QCD trong lĩnh vực dân sự nói riêng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội, thể hiện bản chất của Nhà nước ta; Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu, động lực của sự nghiệp phát triển đất nước, vừa là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phấn đấu phục vụ cho con người, tất cả vì con người. Quyền công dân trong lĩnh vực dân sự khá rộng, được thể hiện trên tất cả các hoạt động về dân sự như: quyền tự do đi lại và cư trú; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền được bảo đảm an sinh xã hội; quyền có việc làm, lựa chọn nghề nghiệp, việc 12 làm, nơi làm việc; quyền học tập; quyền bình đẳng trước pháp luật.
Để mọi cá nhân và công dân thực hiện các quyền của mình, Hiến pháp quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải xây dựng khung pháp lý bảo đảm cho mọi công dân thực hiện tốt các quyền của mình. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào hai lĩnh vực dân sự cơ bản là lĩnh vực đất đai và lĩnh vực an sinh xã hội để tập trung làm rõ quyền công dân trong hai lĩnh vực này. * Quyền công dân trong lĩnh vực đất đai bao gồm: - Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.; - Quyền được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; - Quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất; - Quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề v.v… * Quyền công dân trong lĩnh vực an sinh xã hội bao gồm: - Quyền được tham gia BHXH, BHYT, BHTN; - Quyền được trợ cấp, bảo trợ xã hội; - Quyền được hưởng các chính sách xóa đói, giảm nghèo, trẻ em, người già v.v… Đây là những quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực đất đai và an sinh xã hội mà đề tài luận văn tập trung làm rõ.