Chương 1 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÍ LUẬN VỀ DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Một số vấn ñề lý luận về dân chủ 1. Quan ñiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ Thuật ngữ Dân chủ có gốc từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp: Demokratia, nó ñược ghép từ hai chữ demos có nghĩa là dân chúng, nhân dân và kratos có nghĩa là quyền lực. Dân chủ theo nghĩa tiếng Việt có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nói một cách khác, dân chủ là một khái niệm ñề chỉ một chế ñộ xã hội mà ở ñó nhân dân là chủ thể của quyền lực, nhân dân sử dụng quyền lực, mà quyền lực chính trị là quan trọng nhất ñể tổ chức, quản lý xã hội và thực hiện quyền làm chủ của mình. Vấn ñề ñặt ra là, trong ñiều kiện lịch sử nào và tại sao trong ý thức của con người và loài người lại xuất hiện ý tưởng cho rằng quyền lực thuộc về nhân dân? Có thể có nhiều cách tiếp cận ñể trả lời câu hỏi ñó, từ góc ñộ chính trrị học Mác-Lênin, vấn ñề ñặt ra chẳng những ñược cắt nghĩa trên cơ sở khoa học, mà con phù hợp và hữu ích ñối với thực tiễn ngày nay. Trong lịch sử phát triển cuả nhân loại, vấn ñề dân chủ chính trị chỉ ñược ñặt ra ñối với con người, xã hội loài người khi ñã phân chia thành giai cấp, ñược tổ chức thành nhà nước. Bởi lẽ, trước khi ñó quan hệ giữa người với người là hoàn toàn bình ñẳng.
Lịch sử nhân loại ñã chứng minh, con người muốn tồn tại và phát triển cần phải gắn kết lại với nhau tạo thành cộng ñồng, nhằm tăng thêm sức mạnh ñể chống chọi và chinh phục sức mạnh huyền bí của thiên nhiên, sự tấn công của các lực lượng thù ñịch, ñảm bảo quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của mình. Thị tộc một thiết chế chung cho tất cả các cộng ñồng người ñầu tiên trong lịch sử, là một kiểu tổ chức xã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội, trong ñó thực hành quan hệ bình ñẳng giữa mọi thành viên trong cộng ñồng. Trong xã hội ñó, mọi thành viên, không kể nam hay nữ ñều ñược tham gia một cách tự do, bình ñắng vào các quyết ñịnh chung, liên quan ñến nhu cầu, lợi ích cộng ñồng. Nói cách khác, lúc này quyền lực xã hội là cái mà cộng ñồng cùng thoả thuận nhằm ñể duy trì trật tự công, bảo vệ lợi ích của mọi thành viên.
Nghiên cứu tổ chức thị tộc ñiển hình của người Inñian, L.Morgan ñã nhận xét: Toàn thể các thành viên của thị tộc ñều là người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau, họ ñều có những quyền cá nhân ngang nhau, cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự ñều không ñòi hỏi những ưu tiên nào cả; họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi quan hệ dòng máu. Tự do, bình ñẳng, bác ái tuy chưa bao giờ nêu thành công thức nhưng vẫn là nguyên tắc cơ bản của thị tộc. Cũng từ việc nghiên cứu tổ chức xã hội của loài người trong giai ñoạn lịch sử này, F. Ăngghen ñã viết: “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế ñộ thị tộc quả là một tổ chức xã hội tốt ñẹp biết bao! Không có quân ñội, hiến binh và cảnh sát, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc ñều trôi chảy.
ở ñây, không thể có người nghèo khổ và thiếu thốn,. Tất cả bình ñẳng và tự do, kể cả phụ nữ” [32, tr. Vào giai ñoạn cuối của thời ñại dã man (theo cách phân chia của Mocrgan và cách sử dụng của Ăngghen), nền sản xuất hàng hoá ñã tương ñối phát triển, ñất ñai ñã bị phân chia và chuyển thành sở hữu tư nhân. Do việc mua bán ruộng ñất, do sự phát triển mạnh của phân công lao ñộng giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thương nghiệp và hàng hải cũng như của những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các bộ tộc, bộ lạc ñã kéo theo sự thay ñổi lớn về mặt kết cấu - mối liên kết giữa các thành viên trong các tổ chức bộ tộc, bộ lạc.
Chính ñiều ñó làm cho mọi hoạt ñộng của các tổ chức xã hội rơi vào tình trạng rối loạn. Trong tình hình ấy, người ta ñã phải tìm cách 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải quyết cái công việc mà người ta ñã làm là: “thiết lập một cơ quan quản lý Trung ương. nghĩa là một phần công việc xưa nay do các bộ lạc tự quản lý lấy, lại ñược tuyên bố là công việc chung và ñược chuyển giao cho Hội ñồng chung quản lý, nhân danh “lợi ích chung”, ñể duy trì trật tự chung, những người này ñặt ra pháp luật, lập cảnh binh, toà án, nhà tù,. thao túng quyền hành bắt bộ phận còn lại, thường là số ñông và ñược gọi là dân phải phục tùng ý chí của họ.
Như vậy có thể nói sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao ñộng mới, sự phân chia giai cấp, sự xuất hiện của nhà nước vừa là một bước tiến của văn minh nhân loại; ñồng thời sự hiện hữu của nhà nước, pháp luật là một dấu hiệu cho thấy rằng xã hội từ ñó ñang tồn tại một tình trạng bất công, bất bình ñẳng. Sự xuất hiện nhà nước với tư cách là một bộ máy quyền lực ñặc biệt - “tựa hồ” ñứng ra ngoài, ñứng bên trên xã hội vừa là một bước tiến của văn minh, nhưng mặt khác, ñó là dấu hiệu mở ñầu của sự “tha hoá”, về quyền lực xã hội nói chung, quyền và nghĩa vụ của cộng ñồng người cấu thành xã hội - nhà nước nói riêng. Khát vọng dân chủ, khát vọng ñòi trả lại sự bình ñẳng, công bằng; phục hồi lại ý nghĩa nguyên thuỷ của quyền lực xã hội ñã nảy sinh trong ñiều kiện hiện thực ñó, và chính nó ñã trở thành mẫu số chung liên kết, thôi thúc các lực lượng tiến bộ, các giai tầng bị bóc lột, áp bức cùng hành ñộng. Kể từ ñó trở ñi, xã hội loài người ñã vận ñộng, phát triển trong sự biến thiên không ngừng của các cuộc tìm kiếm, thể nghiệm; của những cuộc ñấu tranh giai cấp, nhằm tạo lập một chế ñộ chính trị hợp lý có hiệu quả - chế ñộ chính trị dân chủ, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nước chủ nô là hình thức nhà nước ñầu tiên của chế ñộ xã hội có giai cấp. Trong xã hội ấy, quyền lực nhà nước không còn dành cho nhân dân với tư cách là số ñông mà dành cho giai cấp chủ nô, nó thực hiện khát vọng và quyền lực cuả giai cấp chủ nô. Người nô lệ bị chiếm ñoạt hoàn toàn mọi quyền tự do, họ bị coi là những “công cụ biết nói”, giai cấp chủ nô xem nô lệ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là vật sở hữư mà có quyền tự do mua bán, chuyển nhượng, ban tặng hoặc chém giết mà vẫn ñược nhà nước và pháp luật bảo vệ. Trước tình cảnh bị ñè nén, áp bức, bất công, kinh rẻ, số ñông quần chúng nhân dân, tầng lớp “bên dưới” buộc phải vùng lên ñấu tranh chống lại lực lượng “bên trên” - giai cấp nắm giữ quyền lực nhà nước.
Lịch sử xác nhận rằng ñã từng có một chế ñộ, một loại hình nhà nước dân chủ trong thời ñại chiếm hữu nô lệ, và ñiều ñó ñược xem như là kết quả của những tìm kiếm, thể nghiệm, của cuộc ñấu tranh về mặt quan ñiểm trong việc xây dựng một nhà nước, một chế ñộ xã hội hợp lý giữa một bên là lực lượng dân chủ - tiến bộ và một bên là lực lượng phản dân chủ của phái quý tộc chủ nô. Dẫu vậy, trong chế ñộ dân chủ ấy, các nguyên tắc dân chủ có tính sơ khai chỉ ñược thực hành trong khuôn khổ tổ chức và hoạt ñộng của bộ máy nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích, quyền lực của giai cấp chủ nô thống trị. Sau ñó, lịch sử loài người ñã trải qua những “ñêm dài trung cổ”, trong thời kỳ này chỉ có thần quyền và thế quyền ngự trị. Chế ñộ chuyên chế phong kiến giam hãm, trói buộc con người bởi cường quyền và bạo lực.
Chế ñộ chuyên chế phong kiến là một hình thức nhà nước, một cách thức cai trị xã hội hà khắc, phi nhân tính. Nguyên tắc duy nhất của chủ nghĩa chuyên chế phong kiến - C.Mác nhận xét là: khinh miệt con người, là con người bị làm mất nhân tính. Từ thế kỉ XV ñến thế kỉ XVI, phong trào Phục hưng ở Châu Âu ñã tiến hành cuộc ñấu tranh nhằm phá vỡ sự thống trị của chuyên chế phong kiến ñể hình thành một xã hội dân chủ, tiến bộ với nội dung cốt yếu là khẳng ñịnh vị trí con người với tư cách là chủ thể của xã hội. Có thể xem ñó lầ bản tuyên ngôn về quyền dân chủ, tự do của con người ñược các tư tưởng gia tiến bộ trong thời kỳ này cổ suý.
ðây là cuộc ñấu tranh trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng của giai cấp tư sản nhằm chống lại chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa thầy tu và thần học. ðại biểu tiêu biểu cho phong trào này là Côpecnich, Brunô, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sêchxphia,… họ khẳng ñịnh cái ñẹp thật sự của cuộc sống là ở con người, ở trần gian, chứ không phải là lực lượng siêu nhiên, thần thánh, ở thiên ñường; cho nên con người không thể sông cam chịu, mà phải ñấu tranh vì tự do, dân chủ. Với tinh thần ñó, chủ nghĩa duy lý trong thế kỉ XVII ñã giáng xuống chủ nghĩa phong kiến ñòn thứ hai với tư tưởng ñề cao tư duy, trí tuệ của con người, phủ ñịnh “chân lý” của tôn giáo. Cuối cùng trào lưu khai sáng ở thế kỉ XVIII với tư tưởng dân chủ, nhân ñạo ñã làm rạng rỡ cho nền văn hoá tư sản.
Nó thể hiện tinh thần ñấu tranh cho tự do, dân chủ, ñó là những cuộc ñấu tranh chống lại thần quyền, cường quyền, chống lại thần học nhằm mở mang trí tuệ và ñổi mới tư duy, nâng cao tư tưởng về bình quyền, bình ñẳng, khẳng ñịnh thế giới quan duy vật, mà tiêu biểu là các nhà tư tưởng như Vônte, Rutxô… Chính giai cấp tư sản trong thời kì ñang lên ñã giương cao ngọn cờ “tự do, bình ñẳng, bác ái” ñể tập hợp các lực lượng bên dưới tiến hành cuộc cách mạng chính trị lật ñổ chế ñộ phong kiến chuyên chế, xác lập chế ñộ dân chủ tư sản.