Chương 1: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về thay đổi, cải chính hộ tịch Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thay đổi, cải chính hộ tịch trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thay đổi, cải chính hộ tịch trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH HỘ TỊCH 1. QUAN NIỆM VỀ THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH HỘ TỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH HỘ TỊCH 1. Khái niệm thay đổi, cải chính hộ tịch và đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch 1.
Thay đổi, cải chính hộ tịch Từ góc độ ngôn ngữ, “Thay đổi” theo Từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê là một động từ, có nghĩa là thay cái này bằng cái khác [30, tr.1162]; “Cải chính” cũng là một động từ, có nghĩa là chữa lại cho đúng sự thật [30, tr. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, “thay đổi” có nghĩa là thay cái này bằng cái khác; “cải chính” có nghĩa là sửa lại cho đúng điều đã nói trước đó Theo Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Lân, Bửu Kế), thì Hộ tịch được hiểu theo những cách khác nhau: “Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.384]; “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [27, tr.401]; "Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương" [28, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê thì Hộ tịch: Sổ của cơ quan dân chính đăng kí dân cư trong địa phương mình theo hộ [30, tr. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật.
Đăng ký hộ tịch, khai báo hộ tịch với công an khu phố” [46, tr. Như vậy, khái niệm “thay đổi” “cải chính” có nghĩa hiểu tương đối thống nhất, khái niệm “hộ tịch” có nhiều cách hiểu khác nhau và còn có sự 8 nhầm lẫn với khái niệm “hộ khẩu”. Từ những phân tích như trên, có thể hiểu: “Thay đổi hộ tịch” là thay các thông tin của sự kiện hộ tịch đã được đăng ký bằng thông tin khác theo quy định của pháp luật. “Cải chính hộ tịch” là chữa lại các thông tin của sự kiện hộ tịch đã được đăng ký cho đúng sự thật.
Từ góc độ pháp lý, “thay đổi hộ tịch” và “cải chính hộ tịch” là những khái niệm pháp lý đặc thù, không dễ đưa ra bằng một định nghĩa với các đặc điểm, tiêu chí khái quát chung. Trải qua một thời gian dài các nhà làm luật không đưa ra khái niệm thay đổi, cải chính hộ tịch mà chỉ quy định những trường hợp được thay đổi, cải chính hộ tịch, thẩm quyền, thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch… trong các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “Cải chính hộ tịch: (Cơ quan nhà nước có thẩm quyền) chữa lại cho đúng những sai sót về hộ tịch như sai ngày, tháng, năm sinh, tên, họ, chữ đệm” [23, tr. - Từ góc độ so sánh luật, qua tham khảo tài liệu pháp lý của một số nước như Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc … đều quy định về thay đổi hộ tịch và cải chính hộ tịch.
Nhìn chung, các nước đều thống nhất về tên gọi đối với thay đổi hộ tịch. Tuy nhiên đối với cải chính hộ tịch các nước lại quy định không giống nhau. Pháp luật về đăng ký hộ tịch Nhật Bản đề cập đến việc “sửa” các vấn đề liên quan đến hộ tịch. Thuật ngữ này tương tự như thuật ngữ “cải chính” trong pháp luật hộ tịch Việt Nam.
Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp lại quy định về việc đính chính chứng thư hộ tịch (gồm khai sinh, khai tử, kết hôn). Việc đính chính chứng thư hộ tịch có thể do Chánh án Tòa án hoặc Viên chức hộ tịch thực hiện. Việc đính chính theo thể thức tư pháp hoặc hành chính đều có giá trị với mọi người [21, điều 99, 99-1, 100]. - Trong lịch sử pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về hộ tịch nói chung và thay đổi, cải chính hộ tịch nói riêng.
Sắc lệnh số 185-SL ngày 26/5/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định 9 Tòa án sơ cấp có quyền xử sơ thẩm nhưng việc liên quan đến hộ tịch, trong đó có việc xin sửa chữa giấy khai sinh, tử, giá thú; Điều lệ Hộ tịch năm 1956, Điều lệ Hộ tịch 1961 đã quy định về việc “sửa chữa các điều đã đăng ký”. Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã quy định về thay đổi, cải chính hộ tịch nhưng chỉ quy định về thẩm quyền, thủ tục mà chưa đưa ra khái niệm thay đổi, cải chính hộ tịch. Mãi đến năm 2014, lần đầu tiên khái niệm “thay đổi hộ tịch” và “cải chính hộ tịch” mới được đưa ra tại Luật Hộ tịch. Theo đó, “Thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc thay đổi thông tin về cha mẹ trong nội dung giấy khai sinh đã đăng ký theo quy định của pháp luật” [34, Điều 4] “Cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch” [34, Điều 4].
Từ những phân tích trên, có thể khái quát chung về thay đổi hộ tịch, cải chính hộ tịch như sau: Thay đổi hộ tịch là một sự kiện hộ tịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi họ, tên, chữ đệm của cá nhân đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cải chính hộ tịch là một sự kiện hộ tịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ hộ tịch việc sửa chữa những nội dung đã được đăng ký trong Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch của cá nhân, nhưng có sai sót trong khi đăng ký hộ tịch. 10 Như vậy, thay đổi hộ tịch và cải chính hộ tịch giống nhau ở chỗ đều là những sự kiện hộ tịch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Tuy nhiên, khác nhau ở chỗ: - Tại thời điểm đăng ký hộ tịch thì thay đổi hộ tịch: các thông tin đăng ký hộ tịch là đúng, không có sai sót; còn cải chính hộ tịch thì tại thời điểm đăng ký hộ tịch đã có sai sót như: cán bộ ghi chép (đánh máy) sai giới tính của người được đăng ký hộ tịch.
- Về phạm vi: thay đổi hộ tịch chỉ áp dụng đối với việc thay đổi họ, tên, chữ đệm trong Giấy khai sinh; Còn cải chính hộ tịch áp dụng với tất cả các giấy tờ hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn) và các nội dung trong giấy tờ hộ tịch như: ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, số chứng minh nhân dân của người đi đăng ký hộ tịch (trừ nội dung: quốc tịch) 1. Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện thay đổi, cải chính hộ tịch của cá nhân nhằm đảm bảo tính chính xác của các thông tin, dữ liệu hộ tịch, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và thực hiện quản lý về dân cư, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo quan niệm truyền thống: Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch là việc ghi chép vào sổ sự thay đổi, cải chính các thông tin hộ tịch của các hộ lại nhằm quản lý việc biến động tự nhiên, biến động xã hội của các sự kiện đó, trên cơ sở đó xác định nghĩa vụ đối với Nhà nước như đóng thuế, nghĩa vụ nô dịch, quân dịch. Theo quan niệm hiện tại: Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào sổ hộ tịch sự kiện thay đổi họ, tên, cải chính hộ tịch trong các giấy tờ hộ tịch.
Hiện nay, theo Luật Hộ tịch năm 2014 thì “đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ 11 tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư” [34, Điều 2]. Từ những quy định trên đây, có thể hiểu: Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện thay đổi hộ tịch theo quy định của Bộ luật dân sự, các sự kiện cải chính hộ tịch khi có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Pháp luật về thay đổi, cải chính hộ tịch Ở nước ta, pháp luật về hộ tịch nói chung, thay đổi, cải chính hộ tịch nói riêng có lịch sử lâu đời. Tuy nhiên, việc quản lý việc thay đổi, cải chính hộ tịch được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần của Sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc Kỳ vẫn được tiếp tục áp dụng.