Tổng quan nghiên cứu

Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam sau khi được nâng cấp lên đô thị vào năm 2015 đã chứng kiến bước chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2014 - 2018 đạt 8,9%/năm. Trong bức tranh phát triển chung đó, ngành nông nghiệp thị xã duy trì mức tăng trưởng 3,9% vào năm 2018. Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế có xu hướng giảm từ 9,3% năm 2014 xuống 8,4% năm 2018, lĩnh vực này vẫn đóng vai trò an sinh xã hội đặc biệt quan trọng khi có tới 61,6% dân số sống ở khu vực nông thôn và 18,6% lực lượng lao động trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa phương đang đối mặt với nhiều thách thức gay gắt. Hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn phần lớn vẫn ở quy mô hộ gia đình manh mún, hiện tượng suy giảm thâm canh xuất hiện ở nhiều vùng, chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản lỏng lẻo dẫn đến tình trạng mất giá thường xuyên lặp lại. Bên cạnh đó, vai trò của bộ máy quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế trong công tác lập quy hoạch, tuyên truyền và thanh tra vật tư nông nghiệp.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách công trong nông nghiệp, đánh giá khách quan thực trạng triển khai các chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại 20 xã, phường của thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014 - 2018, từ đó nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025. Về mặt thực tiễn, công trình cung cấp luận cứ khoa học để địa phương đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nông nghiệp đô thị, góp phần nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 24 triệu đồng năm 2014 lên trên 39 triệu đồng năm 2018 và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới mức 2,72%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết chính trong khoa học quản lý công và kinh tế học phát triển:

Lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson và Wayne Parsons cung cấp hệ thống phân tích logic qua các giai đoạn: xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, lập kế hoạch triển khai, tổ chức bộ máy và phân công phối hợp, duy trì - điều chỉnh chính sách, đôn đốc - kiểm tra và tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm. Lý thuyết này cho phép xem xét hoạt động quản lý nhà nước về nông nghiệp như một chuỗi tương tác liên tục giữa cơ quan công quyền và đối tượng thụ hưởng.

Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và phát triển bền vững khẳng định vai trò của việc chuyển dịch cơ cấu nội ngành từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên nền tảng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, gia tăng giá trị sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái.

Khung phân tích của đề tài vận hành xoay quanh 4 khái niệm khoa học trọng tâm:

  • Chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp: Tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm định hướng, điều tiết và hỗ trợ các nguồn lực để nâng cao hiệu quả sản xuất nông, lâm, thủy sản.
  • Thực hiện chính sách: Quá trình chuyển hóa các mục tiêu, quy định pháp luật thành hành động thực tế của các chủ thể quản lý và đối tượng thực thi.
  • Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Tổng thể các mối quan hệ tỷ lệ giữa các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp trong một giai đoạn phát triển.
  • Nông nghiệp đô thị: Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tận dụng không gian đô thị và vùng ven để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao, phục vụ thị trường đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan và khoa học toàn diện:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thị xã Điện Bàn, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014 - 2018, các đề án kiên cố hóa kênh mương và quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật điều tra xã hội học với quy mô mẫu khảo sát gồm 120 cá nhân, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại toàn bộ 20 xã, phường trên địa bàn thị xã. Mẫu được chia thành hai nhóm đối tượng cụ thể: nhóm 1 gồm các cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước tại Phòng Kinh tế, Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp và Ủy ban nhân dân cấp xã; nhóm 2 gồm các hộ nông dân, chủ trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp trực tiếp sản xuất kinh doanh nông sản. Phiếu khảo sát sử dụng thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ từ 1 là rất kém đến 5 là rất tốt.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh đối chéo là nhằm định lượng hóa mức độ hài lòng, đo lường sự chênh lệch trong nhận thức giữa nhóm chủ thể quản lý và nhóm đối tượng thụ hưởng, từ đó nhận diện rõ ràng các bất cập trong khâu tổ chức thực hiện chính sách tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014 - 2018 đã mang lại những kết quả định lượng cụ thể:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt mức bình quân 3,46%/năm, hoàn thành chỉ tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã đề ra. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt từ 65,00% năm 2014 xuống còn 53,49% năm 2018, đồng thời tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi từ 30,97% lên 41,97%. Ngành dịch vụ nông nghiệp tuy có bước phát triển nhưng vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, từ 4,03% năm 2014 tăng lên 4,68% năm 2018.

Thứ hai, trong lĩnh vực trồng trọt, tổng diện tích gieo trồng có xu hướng giảm 349 ha trong 5 năm do quá trình đô thị hóa, tuy nhiên năng suất và giá trị canh tác được cải thiện với mức thu nhập bình quân toàn thị xã đạt 34 triệu đồng/ha/năm. Đáng chú ý, sản lượng lương thực cây có hạt duy trì ổn định ở mức bình quân 78.544,7 tấn/năm, vượt mức kế hoạch 76.000 tấn. Một số mô hình chuyên canh ứng dụng giống mới mang lại giá trị kinh tế vượt trội như mô hình lúa giống tại Điện Phước, Điện Thọ đạt 55 - 80 triệu đồng/ha/năm, mô hình hoa cây cảnh tại Điện Minh, Vĩnh Điện đạt 300 triệu đồng/ha/năm, và các mô hình xen canh gối vụ vùng Gò Nổi đạt 100 - 250 triệu đồng/ha/năm.

Thứ ba, ngành chăn nuôi bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 11,63%/năm. Tổng đàn bò tăng 14,5% đạt 22.000 con vào năm 2018; đàn gia cầm tăng 13,64% vượt mức 1.022.000 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2018 đạt 6.823 tấn. Công tác thú y được thực hiện tương đối tốt với tỷ lệ tiêm phòng vắc xin định kỳ đạt 75%, giúp khống chế an toàn các ổ dịch nguy hiểm.

Thứ tư, kết quả khảo sát 120 đối tượng đã phản ánh khoảng cách lớn trong đánh giá hiệu quả thực thi chính sách giữa các nhóm chủ thể. Đối với công tác xây dựng và ban hành văn bản, 52,00% cán bộ quản lý đánh giá ở mức tốt và rất tốt, trong khi chỉ có 34,45% hộ nông dân và doanh nghiệp đồng tình với mức đánh giá này. Đặc biệt, về vai trò điều hành của chính quyền cơ sở, có tới 33,33% hộ sản xuất đánh giá ở mức bình thường và 21,11% đánh giá ở mức kém hoặc rất kém, cho thấy chính sách chưa thực sự đi sâu vào đời sống sản xuất của người dân.

Thảo luận kết quả

Khoảng cách nhận thức giữa bộ máy quản lý và đối tượng thụ hưởng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân sâu xa. Thứ nhất, công tác tuyên truyền và phổ biến cơ chế hỗ trợ nông nghiệp còn mang tính hình thức, chủ yếu thông qua văn bản hành chính mà thiếu các buổi đối thoại thực địa. Thứ hai, năng lực lập kế hoạch sản xuất của một số xã, phường chưa sát với biến động của thị trường, dẫn đến tình trạng đầu tư tự phát theo phong trào và phụ thuộc vào các đợt giải cứu nông sản.

Dữ liệu nghiên cứu về sự chênh lệch này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ hài lòng giữa cán bộ và người dân, kết hợp với bảng số liệu phân tích cơ cấu giá trị sản xuất qua các năm để làm nổi bật xu hướng chuyển dịch của từng phân ngành.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu tiền bối, kết quả của luận văn có sự tương đồng sâu sắc với nghiên cứu của Đoàn Tranh về những rào cản trong liên kết chuỗi giá trị tại tỉnh Quảng Nam, đồng thời tái khẳng định quan điểm của Đặng Kim Sơn về tính cấp bách của việc tái cấu trúc thể chế quản lý nông nghiệp cấp cơ sở trong bối cảnh công nghiệp hóa. Điểm mới của luận văn là đã đặt vấn đề thực thi chính sách nông nghiệp trong bối cảnh thị xã Điện Bàn đang chuyển mình từ mô hình huyện thuần nông sang chính quyền đô thị, qua đó làm rõ những mâu thuẫn giữa quy hoạch phát triển công nghiệp với bảo tồn quỹ đất canh tác màu mỡ.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn trong giai đoạn mới, các giải pháp mang tính hành động cao cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch phân vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và đẩy mạnh tích tụ đất đai. Ủy ban nhân dân thị xã chỉ đạo Phòng Tài nguyên - Môi trường phối hợp với Phòng Kinh tế rà soát 11.000 ha đất nông nghiệp, xây dựng cơ chế cho phép người dân góp vốn bằng quyền sử dụng đất với doanh nghiệp. Mục tiêu nâng diện tích canh tác ứng dụng công nghệ sinh học và tự động hóa đạt 35% diện tích đất màu trước năm 2025.

Thứ hai, đẩy mạnh hiện đại hóa kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất. Ban Quản lý dự án thị xã và Ủy ban nhân dân 20 xã, phường tập trung hoàn thành 100% mục tiêu đầu tư nâng cấp 52,863 km đường giao thông nội đồng và 64,82 km kênh mương loại III theo đề án đã duyệt trong giai đoạn 2021 - 2025, kết hợp xây dựng hệ thống đập ngăn mặn giữ ngọt để ứng phó với diễn biến biến đổi khí hậu ven sông Thu Bồn.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ cơ sở và đổi mới phương thức tuyên truyền. Phòng Kinh tế thị xã chủ trì xây dựng lộ trình tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm cho công chức nông nghiệp cấp xã. Chuyển đổi phương thức phổ biến chính sách sang nền tảng số và mạng xã hội, phấn đấu nâng tỷ lệ người dân đánh giá tốt và rất tốt đối với chính sách nông nghiệp lên trên 75% vào năm 2024.

Thứ tư, tái cơ cấu dịch vụ nông nghiệp và thúc đẩy chuỗi liên kết 4 nhà gồm Nhà nước, Nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông. Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp đóng vai trò hạt nhân chuyển giao các mô hình kinh tế có giá trị trên 150 triệu đồng/ha, đồng thời xúc tiến thương mại nông sản OCOP, phấn đấu nâng tỷ trọng phân ngành dịch vụ nông nghiệp từ 4,68% lên mức 8,00% trong tổng cơ cấu ngành vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, Phòng Kinh tế và các ban ngành nông nghiệp địa phương có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu như một tài liệu hướng dẫn để rà soát quy trình ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra các văn bản chính sách phát triển nông thôn mới.

Nhóm cán bộ khuyến nông, ban quản trị hợp tác xã và các hiệp hội ngành nghề tìm thấy trong luận văn các mô hình canh tác thâm canh hoa màu, chăn nuôi an toàn sinh học có hệ số sinh lời từ 55 triệu đến 300 triệu đồng/ha/năm để áp dụng nhân rộng vào thực tiễn địa phương.

Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Kinh tế phát triển có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp dữ liệu thống kê thứ cấp với khảo sát xã hội học sơ cấp theo thang đo Likert trong việc đánh giá chính sách công cấp cơ sở.

Nhóm doanh nghiệp và nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao có thể sử dụng các dữ liệu về hiện trạng tài nguyên đất, khí hậu và cơ chế hỗ trợ của thị xã Điện Bàn để xây dựng phương án đầu tư kinh doanh khả thi vào chuỗi giá trị nông sản sạch.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn thạc sĩ này là gì? Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận về quản trị chính sách công trong nông nghiệp và đánh giá toàn diện thực trạng thực thi các chương trình phát triển nông nghiệp tại 20 xã, phường thuộc thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014 - 2018, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành kinh tế nông nghiệp đô thị.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát trong luận văn được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính đại diện? Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô 120 cá nhân trải đều trên 20 xã, phường của thị xã Điện Bàn. Mẫu được chia đều cho hai nhóm: cán bộ quản trị nhà nước chuyên trách và các hộ nông dân, doanh nghiệp, giúp phản ánh đa chiều từ phía ban hành đến phía thụ hưởng chính sách.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014 - 2018 có những biến chuyển then chốt nào? Cơ cấu nông nghiệp địa phương dịch chuyển tích cực theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi từ 30,97% lên 41,97%, giảm tỷ trọng trồng trọt từ 65,00% xuống 53,49% và nâng nhẹ tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp lên 4,68%. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành duy trì mức bình quân 3,46%/năm.

Điểm nghẽn lớn nhất trong khâu thực thi chính sách nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn là gì? Điểm nghẽn nổi bật là sự chênh lệch lớn về mức độ hài lòng khi có hơn 54% hộ sản xuất đánh giá vai trò của chủ thể quản lý nhà nước ở mức bình thường đến kém. Công tác quy hoạch còn thiếu gắn kết với thị trường tiêu thụ và việc kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.

Những mô hình kinh tế nông nghiệp nào đang mang lại giá trị cao nhất tại địa phương? Các mô hình nông nghiệp đô thị chuyên canh mang lại hiệu quả vượt trội so với mức bình quân 34 triệu đồng/ha/năm của thị xã, tiêu biểu là mô hình trồng hoa cây cảnh tại Điện Minh và Vĩnh Điện đạt doanh thu 300 triệu đồng/ha/năm, cùng mô hình xen canh đất màu vùng Gò Nổi đạt 100 - 250 triệu đồng/ha/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm khung lý thuyết về chu trình thực thi chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở cấp hành chính đô thị mới thành lập.
  • Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về thành tựu tăng trưởng nông nghiệp thị xã Điện Bàn với mức tăng 3,46%/năm và sản lượng lương thực ổn định 78.544,7 tấn/năm.
  • Công trình đã chỉ rõ những bất cập nội tại trong quy trình thực thi chính sách khi có sự lệch pha lớn giữa nhận định của chính quyền và người dân tại 20 xã, phường.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược về hoàn thiện quy hoạch đất đai, nâng cấp 64,82 km kênh mương, nâng cao năng lực bộ máy và mở rộng chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025 nhằm đưa nông nghiệp Điện Bàn chuyển mình vững chắc thành mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái hiện đại.

Các nhà quản lý chính sách và chuyên gia học thuật quan tâm đến mô hình quản trị nông nghiệp đô thị hãy nghiên cứu chi tiết toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn địa phương.