Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số là chủ trương chiến lược xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, đặc biệt tại các vùng phên dậu biên cương. Huyện Bình Liêu là địa bàn miền núi, biên giới phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh với chiều dài đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc là 42,999 km, có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 96% dân số toàn huyện. Mặc dù địa phương đã đạt được những bước tiến ấn tượng khi giảm số hộ nghèo từ 223 hộ đầu năm 2020 xuống chỉ còn 29 hộ vào cuối năm 2022, đồng thời hoàn thành mục tiêu 100% số xã có điện lưới quốc gia và 100% trạm y tế có bác sĩ công tác, song công tác an sinh xã hội vẫn đứng trước nguy cơ tái nghèo cao khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 với 387 hộ nghèo được ghi nhận.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ tính bền vững trong việc thực thi các chính sách giảm nghèo, nhận diện những điểm nghẽn cản trở phát triển sinh kế tại các xã đặc biệt khó khăn như Lục Hồn, Đồng Tâm, Húc Động và Vô Ngại. Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và thực hiện chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số; phân tích thực trạng triển khai các gói hỗ trợ giai đoạn 2020 - 2022; xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng có tầm nhìn đến năm 2028. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế điều hành, quản trị nguồn lực ngân sách và thúc đẩy mức tăng trưởng thu nhập cho hơn 96% cư dân thiểu số trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói do nhà kinh tế học Ragnar Nurkse khởi xướng, giải thích mối quan hệ biện chứng giữa thu nhập thấp, năng lực tích lũy vốn hạn chế và năng suất lao động yếu kém tại vùng sâu vùng xa. Bên cạnh đó, luận văn tiếp cận khung lý thuyết thực thi chính sách công của Donald Van Meter và Carl Van Horn, kết hợp các quan điểm quản lý kinh tế của các học giả Việt Nam như Lê Chi Mai và Nguyễn Hữu Hải để đánh giá chu trình chuyển hóa chủ trương từ văn bản thành hành động can thiệp xã hội cụ thể.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh bốn khái niệm nòng cốt: Nghèo đa chiều theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và Liên Hợp Quốc phản ánh sự thiếu hụt vượt khỏi phạm vi thu nhập; Chuẩn nghèo quốc gia xác định ngưỡng chi phí tối thiểu theo từng thời kỳ; Dân tộc thiểu số căn cứ theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ; và Chính sách giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số với tư cách là hệ thống công cụ công can thiệp có mục tiêu nhằm mở rộng cơ hội sinh kế, cải thiện an sinh xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kinh tế xã hội, số liệu thống kê chính thức của Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu giai đoạn 2020 - 2022 và các đề án phát triển ngành. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua đợt khảo sát thực địa tiến hành vào tháng 4/2023 bằng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu.

Cỡ mẫu điều tra được xác định theo công thức Slovin từ tổng thể N = 387 hộ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện với sai số cho phép e = 0,05, mang lại quy mô mẫu điều tra chuẩn xác n = 196 hộ. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo từng địa bàn xã nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho cộng đồng các dân tộc Tày, Dao, Sán Chỉ. Về phương pháp phân tích, đề tài sử dụng thống kê mô tả và thống kê so sánh thông qua phần mềm xử lý dữ liệu bảng tính, kết hợp thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 đến 5,0 điểm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ biến động của các chỉ số thu nhập, đánh giá khách quan mức độ thỏa mãn của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời nhận diện rõ nét các điểm nghẽn chính sách trong thực tế triển khai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng 196 hộ nghèo dân tộc thiểu số đã làm sáng tỏ nhiều đặc điểm nhân khẩu và sinh kế đáng lưu ý. Về trình độ học vấn, có tới 69,90% chủ hộ chỉ hoàn thành bậc tiểu học, 4,59% không đi học biết chữ, bậc trung học cơ sở chiếm 19,90% và chỉ có 5,61% chủ hộ đạt trình độ trung học phổ thông. Về cơ cấu nhân khẩu, nhóm tuổi lao động sung sức từ 31 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo 65,82%, nhóm trên 50 tuổi chiếm 23,47% và nhóm dưới 30 tuổi chiếm 10,71%; trong đó nam giới giữ vai trò chủ hộ chiếm 57,65% và nữ giới chiếm 42,35%.

Về mặt kinh tế, cơ cấu tổng sản phẩm huyện Bình Liêu năm 2022 ghi nhận khu vực thương mại dịch vụ chiếm 43,24%, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,40%, trong khi khu vực công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 16,36%. Dù quỹ đất nông nghiệp chiếm tới 38.950 ha trên tổng số 47.500 ha diện tích tự nhiên toàn huyện (tương đương 81,98%), nhưng phương thức canh tác truyền thống tự cung tự cấp vẫn chi phối đời sống của đồng bào.

Trong giai đoạn 2020 - 2022, huyện đã giúp giảm số hộ nghèo từ 223 hộ xuống 29 hộ, đạt mức giảm ấn tượng trên 86,99%. Tuy nhiên, khi chuyển sang chuẩn nghèo đa chiều mới, toàn huyện ghi nhận 387 hộ nghèo dân tộc thiểu số, tập trung dày đặc ở các xã vùng cao biên giới. Đánh giá chất lượng thực thi chính sách thông qua thang đo Likert cho thấy các chương trình cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ hạ tầng điện lưới đạt điểm đánh giá khá từ 3,85 đến 4,20 điểm, trong khi hoạt động đào tạo nghề ngắn hạn và liên kết bao tiêu sản phẩm chỉ đạt mức trung bình từ 2,65 đến 3,10 điểm.

Thảo luận kết quả

Tốc độ giảm nghèo cơ học của huyện Bình Liêu diễn ra nhanh chóng chủ yếu nhờ sự tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu từ ngân sách trung ương và tỉnh Quảng Ninh. Dù vậy, tính bền vững chưa cao bắt nguồn từ năng lực nội tại hạn chế của hộ dân tộc thiểu số; học vấn thấp dẫn tới việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kỹ năng quản trị dòng tiền vay vốn còn nhiều lúng túng.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh với thành tích mở 22 lớp nghề cho 492 lao động nông thôn và đưa mức giảm nghèo năm 2022 vượt kế hoạch 0,23%, hoặc so với huyện vùng cao Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nơi còn 3.600 hộ nghèo chiếm 20,29% dân số, Bình Liêu sở hữu ưu thế vượt trội về 34.683 ha đất lâm nghiệp nhưng chưa phát triển tương xứng các chuỗi liên kết lâm sản có giá trị thương mại lớn.

Để trình bày một cách tường minh, toàn bộ diễn biến dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn mô tả ba khu vực kinh tế năm 2022 với dịch vụ chiếm 43,24%, nông lâm nghiệp 40,40% và công nghiệp 16,36%; kết hợp với biểu đồ cột ngang phản ánh học vấn chủ hộ với mức 69,90% ở bậc tiểu học. Đồng thời, một bảng cân đối nhiều chỉ tiêu có thể được thiết lập để theo dõi mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của 387 hộ nghèo, qua đó phác họa bức tranh can thiệp chính sách toàn diện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu toàn diện kinh tế lâm nghiệp gắn với chuỗi giá trị cây dược liệu bản địa. Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với chính quyền các xã Lục Hồn, Đồng Tâm, Húc Động triển khai quy hoạch vùng chuyên canh cây hồi, quế, sở và sa mộc trên diện tích 34.683 ha đất lâm nghiệp. Mục tiêu nâng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng bình quân từ 8% đến 10% mỗi năm, thực hiện phủ xanh tối thiểu 1.500 ha rừng gỗ lớn trong khung thời gian từ năm 2024 đến năm 2026.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo nghề gắn với thị trường lao động thương mại biên mậu qua cửa khẩu Hoành Mô. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì, phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện mở tối thiểu 20 lớp dạy nghề thực hành mỗi năm, cam kết giải quyết việc làm ổn định cho trên 500 lao động dân tộc thiểu số mỗi năm, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên toàn huyện vượt mức 65% trong giai đoạn 2024 - 2027.

Thứ ba, tối ưu hóa chất lượng giải ngân tín dụng chính sách xã hội kết hợp chuyển giao kỹ thuật khuyến nông. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bình Liêu phối hợp chặt chẽ với Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên quản lý vốn ủy thác, phấn đấu giải ngân 100% nguồn vốn vay ưu đãi đúng đối tượng nghèo, duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 0,15%. Thực hiện cấp hạn mức vay linh hoạt trên 50 triệu đồng cho 100% hộ dân tộc thiểu số có phương án sản xuất khả thi từ nay đến năm 2028.

Thứ tư, nâng cấp năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ cán bộ cơ sở và tăng cường truyền thông đẩy lùi tâm lý ỷ lại. Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu tổ chức bồi dưỡng kỹ năng quản lý chính sách công cho 100% công chức phụ trách công tác giảm nghèo cấp xã, trưởng thôn, bản. Đồng thời, tổ chức định kỳ 30 hội nghị đối thoại và truyền thông chính sách trực tiếp mỗi năm tại cơ sở, vận động trên 90% hộ nghèo ký cam kết nỗ lực sản xuất vươn lên thoát nghèo bền vững trong giai đoạn 2024 - 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý an sinh xã hội cấp huyện, tỉnh tại Quảng Ninh cũng như các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp bộ khung chỉ số đánh giá thực thi chính sách công chuẩn xác, hỗ trợ xây dựng kế hoạch giảm nghèo bền vững giai đoạn 2024 - 2028 phù hợp với đặc thù vùng biên cương.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc khối ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật về phương pháp chọn mẫu phân tầng Slovin với quy mô 196 quan sát và kỹ thuật phân tích nghèo đa chiều tại địa bàn có trên 96% dân số là đồng bào thiểu số.

Nhóm thứ ba là cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên các cấp. Báo cáo giúp các hội đồng thể nắm bắt chính xác nhu cầu vay vốn và rào cản nhận thức của 196 hộ khảo sát để thiết kế các phong trào đồng hành phát triển kinh tế cơ sở hiệu quả.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã đang tìm kiếm cơ hội đầu tư nông lâm nghiệp và du lịch sinh thái tại Bình Liêu. Dữ liệu luận văn giúp giới đầu tư nhận diện rõ tiềm năng sử dụng 34.683 ha đất rừng và đặc điểm lực lượng lao động địa phương với 65,82% nằm trong độ tuổi 31 đến 50 tuổi.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản nào giúp huyện Bình Liêu giảm mạnh số hộ nghèo từ 223 hộ xuống 29 hộ trong giai đoạn 2020 - 2022? Thành tựu này bắt nguồn từ sự chỉ đạo tập trung của cả hệ thống chính trị địa phương và việc lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn mục tiêu quốc gia. Huyện đã hoàn thiện hạ tầng thiết yếu với 100% xã có điện lưới quốc gia, 100% trạm y tế có bác sĩ, đồng thời triển khai đồng bộ các gói tín dụng ưu đãi và trợ cấp y tế, giáo dục kịp thời.

Tại sao luận văn lại xác định quy mô mẫu điều tra là 196 hộ nghèo dân tộc thiểu số? Tại thời điểm rà soát cuối năm 2022 theo chuẩn nghèo đa chiều mới, toàn huyện ghi nhận 387 hộ nghèo dân tộc thiểu số. Tác giả đã vận dụng công thức Slovin với độ tin cậy khoa học cao và mức sai số cho phép 0,05 để tính toán ra cỡ mẫu đại diện tối thiểu là 196 hộ, bảo đảm phản ánh chính xác thực trạng địa phương.

Trình độ học vấn của chủ hộ tác động như thế nào đến kết quả giảm nghèo tại huyện Bình Liêu? Kết quả khảo sát 196 chủ hộ chỉ ra có tới 69,90% người mới dừng lại ở học vấn cấp 1 và 4,59% chưa từng đến trường. Trình độ học vấn khiêm tốn tạo nên rào cản lớn trong việc tiếp thu kỹ thuật thâm canh hiện đại, tính toán hiệu quả kinh tế hàng hóa và tiếp cận thông tin thị trường xuất nhập khẩu.

Nguy cơ tái nghèo tập trung chủ yếu ở những đơn vị hành chính nào của huyện Bình Liêu? Thách thức tái nghèo diễn ra gay gắt nhất tại các xã đặc biệt khó khăn như Lục Hồn, Đồng Tâm, Húc Động và Vô Ngại. Những khu vực này có độ dốc địa hình lớn, giao thông kết nối các thôn bản còn nhiều trở ngại, trong khi các hộ gia đình chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp tự túc và thiếu vốn tích lũy.

Luận văn định hướng phát triển sinh kế lâm nghiệp của huyện Bình Liêu theo lộ trình nào đến năm 2028? Đề tài định hướng chuyển đổi mạnh mẽ phương thức khai thác trên 34.683 ha đất lâm nghiệp sẵn có. Huyện cần tập trung nhân rộng các mô hình liên kết trồng cây bản địa như hồi, quế, sở và dược liệu quý, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch nhằm gia tăng thu nhập bền vững cho hơn 96% dân số thiểu số.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bức tranh giảm nghèo tại huyện Bình Liêu giai đoạn 2020 - 2022 với bước tiến vượt bậc từ 223 hộ nghèo giảm xuống 29 hộ theo chuẩn nghèo cũ.
  • Chỉ rõ thực trạng nghèo đa chiều phát sinh với 387 hộ nghèo dân tộc thiểu số vào cuối năm 2022, phản ánh nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu sâu sắc tại vùng khó khăn.
  • Lượng hóa các đặc trưng nhân khẩu then chốt qua bộ dữ liệu 196 mẫu điều tra thực chứng, chỉ ra nút thắt lớn khi 69,90% chủ hộ nghèo mới có trình độ tiểu học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao, gắn tái cơ cấu 38.950 ha đất nông nghiệp với xúc tiến việc làm thương mại tại cửa khẩu Hoành Mô.
  • Xác định lộ trình thực thi xuyên suốt từ nay đến năm 2028 nhằm hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa năng lực cán bộ cơ sở và bồi đắp ý chí tự lực vươn lên của đồng bào.

Đóng góp cốt lõi của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Triệu Thị Hồng Thơm là đã xây dựng thành công luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách an sinh vùng biên giới. Các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Bình Liêu và các sở ban ngành liên quan cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất sinh kế lâm nghiệp ngay từ năm 2024 để kiến tạo bước đột phá kinh tế xã hội bền vững cho đồng bào vùng cao.