Luận văn giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Nghiên cứu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa, Quảng Bình. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Trần Đức Đông

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa

Huyện Minh Hóa thuộc vùng miền núi phía tây tỉnh Quảng Bình. Địa bàn có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống khá cao, chủ yếu gồm dân tộc Chứt và Bru - Vân Kiều. Địa hình phức tạp cùng điều kiện tự nhiên khắc nghiệt gây cản trở lớn đến giao thương. Hạ tầng cơ sở tại nhiều thôn bản còn thiếu thốn. Đời sống của đồng bào dân tộc đối mặt với nhiều khó khăn kéo dài. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từng ở mức báo động trong giai đoạn trước. Công tác giảm nghèo bền vững đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện và căn cơ. Địa phương đã triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia. Trọng tâm hướng tới việc bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân. Đồng bào được hỗ trợ tiếp cận y tế, giáo dục, nhà ở và nước sạch. Việc chuyển đổi nhận thức đóng vai trò then chốt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Minh Hóa từng bước phát huy tiềm năng lâm nghiệp và chăn nuôi hộ gia đình. Chính quyền địa phương tích cực lồng ghép các nguồn vốn đầu tư công. Mục tiêu cuối cùng là triệt tiêu tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp xã hội.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội huyện Minh Hóa

Huyện Minh Hóa sở hữu địa hình đồi núi dốc đứng. Giao thông đi lại giữa các xã vùng biên giới còn nhiều cách trở. Khí hậu nơi đây mang tính khắc nghiệt cao. Thiên tai, hạn hán và lũ quét thường xuyên đe dọa mùa màng. Đồng bào dân tộc thiểu số sống phân tán trên các sườn đồi. Tập quán canh tác nương rẫy truyền thống vẫn còn hiện diện phổ biến. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt mức rất thấp. Đa số lao động chỉ hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông cơ bản. Trình độ dân trí chưa đồng đều gây trở ngại cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật. Các yếu tố này kìm hãm trực tiếp tiến trình phát triển kinh tế chung của huyện.

1.2. Khái niệm và yêu cầu giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược an sinh xã hội. Khái niệm này không chỉ giới hạn ở việc tăng thu nhập bình quân. Nó yêu cầu cải thiện căn bản các chỉ số thiếu hụt dịch vụ cơ bản. Người dân cần được tiếp cận y tế, trường học và nguồn nước sạch. Yêu cầu bền vững đòi hỏi hộ thoát nghèo không bị rơi trở lại chuẩn nghèo khi gặp biến cố. Năng lực tự cường của hộ gia đình là tiêu chí đo lường quan trọng nhất. Nhà nước chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế hỗ trợ cho không sang trợ cấp có điều kiện. Phương thức này kích thích nội lực của từng cá nhân và cộng đồng bản địa.

II. Thực trạng giảm nghèo bền vững ở đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa

Quá trình giảm nghèo tại huyện Minh Hóa đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây. Cơ cấu kinh tế huyện có xu hướng chuyển dịch đúng định hướng. Tỷ trọng nông nghiệp giảm dần và nhường chỗ cho công nghiệp, xây dựng cùng thương mại dịch vụ. Tổng giá trị sản xuất năm 2023 đạt hơn 151 tỷ đồng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giữa các lĩnh vực thiếu tính đồng đều. Nông nghiệp và dịch vụ còn phụ thuộc nặng nề vào các yếu tố ngoại cảnh. Thực trạng giảm nghèo ở các xã vùng sâu vẫn đối diện với vô vàn thách thức lớn. Tỷ lệ tái nghèo tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại sau mỗi đợt thiên tai, dịch bệnh. Trình độ học vấn của người lao động dân tộc thiểu số còn nhiều mặt hạn chế. Lao động có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ cực kỳ khiêm tốn. Cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hóa chưa được đầu tư đồng bộ. Khả năng liên kết thị trường tiêu thụ nông sản của bà con còn rất yếu kém. Nguồn lực ngân sách hỗ trợ cho các dự án giảm nghèo đôi lúc bị dàn trải và phân tán.

2.1. Rào cản về hạ tầng và trình độ dân trí

Hạ tầng giao thông nông thôn tại các bản vùng cao Minh Hóa còn manh mún. Mùa mưa lũ thường xuyên gây sạt lở và cô lập nhiều địa bàn xung yếu. Điện lưới, nước sạch sinh hoạt và sóng viễn thông chưa thể phủ kín mọi ngõ ngách. Trình độ học vấn của lực lượng lao động phần lớn dừng lại ở bậc tiểu học. Tỷ lệ nhân lực sở hữu chứng chỉ nghề hay bằng cấp chuyên nghiệp rất thấp. Rào cản ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt cản trở việc tiếp cận kiến thức kinh tế mới. Người dân khó nắm bắt các kỹ thuật chăm sóc cây trồng và vật nuôi tiên tiến. Tình trạng này khiến năng suất lao động không thể bứt phá.

2.2. Hạn chế trong chuyển dịch mô hình sinh kế

Quy mô sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa còn nhỏ lẻ. Người dân chủ yếu phát triển kinh tế theo mô hình tự cung tự cấp. Cây trồng và vật nuôi chưa tạo thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Hoạt động chăn nuôi gia súc còn thả rông, dễ phát sinh dịch bệnh mùa đông. Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phụ trợ chậm hình thành. Doanh nghiệp tư nhân ngần ngại đầu tư chế biến nông lâm sản tại chỗ. Giá trị gia tăng của các sản phẩm địa phương vì thế ở mức rất thấp. Bà con nông dân thiếu kênh kết nối tiêu thụ ổn định, dễ bị thương lái ép giá.

III. Các giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào huyện Minh Hóa

Công tác giảm nghèo tại Minh Hóa cần một hệ sinh thái giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Địa phương phải tập trung huy động và lồng ghép hiệu quả các nguồn lực tài chính. Các chương trình mục tiêu quốc gia cần phân bổ đúng địa bàn trọng điểm. Chính quyền cần ưu tiên nâng cấp mạng lưới hạ tầng đường giao thông liên xã và hệ thống thủy lợi nhỏ. Việc đầu tư lưới điện và trạm thu phát sóng viễn thông giúp mở rộng tri thức cho đồng bào. Đồng thời, huyện cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. Mô hình trồng rừng gỗ lớn kết hợp cây dược liệu dưới tán rừng đem lại nguồn thu cao. Địa phương cần hỗ trợ người dân kỹ thuật nuôi bò thâm canh và gia cầm an toàn sinh học. Đào tạo nghề gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Huyện nên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ngay tại thôn bản. Chính sách tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tiếp tục mở rộng hạn mức vay. Hộ vay vốn cần được hướng dẫn phương án kinh doanh cụ thể để tránh thất thoát.

3.1. Phát triển kinh tế lâm nghiệp và chăn nuôi

Trồng rừng kinh tế là hướng đi chiến lược của huyện Minh Hóa. Địa phương khuyến khích người dân nhận khoán bảo vệ rừng và trồng cây bản địa có giá trị. Trồng cây keo lai và cây dược liệu dưới tán lá rừng mang lại thu nhập đều đặn. Bên cạnh đó, huyện tập trung mở rộng mô hình chăn nuôi trâu, bò có chuồng trại. Cán bộ khuyến nông hướng dẫn bà con kỹ thuật ủ chua thức ăn và tiêm phòng dịch bệnh. Các hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò cầu nối tiêu thụ sản phẩm cho đồng bào. Việc hình thành chuỗi giá trị nông sản giúp hạn chế tối đa rủi ro biến động giá cả thị trường.

3.2. Đổi mới giáo dục nghề nghiệp và an sinh xã hội

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đổi mới toàn diện. Các chương trình dạy nghề phải bám sát đặc thù sinh thái vùng cao. Địa phương ưu tiên dạy nghề sửa chữa máy móc nông cụ và kỹ thuật chế biến lâm sản. Song song đó, huyện chú trọng củng cố mạng lưới an sinh xã hội cơ sở. Học sinh dân tộc thiểu số được hỗ trợ học bổng và chi phí ăn ở bán trú. Trạm y tế các xã vùng sâu được bổ sung trang thiết bị y tế cùng bác sĩ tăng cường. Các chính sách bảo hiểm y tế miễn phí giúp bảo vệ sức khỏe người nghèo trước rủi ro tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo.

IV. Triển vọng giảm nghèo bền vững của đồng bào dân tộc Minh Hóa

Giảm nghèo bền vững tại huyện Minh Hóa là một hành trình dài hạn đòi hỏi sự bền bỉ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ban ngành đóng vai trò quyết định. Đổi mới phương thức quản lý chính sách mang lại hiệu quả thiết thực cho người thụ hưởng. Các nguồn lực đầu tư cần được giải ngân đúng mục tiêu và kiểm tra thường xuyên. Thực tiễn chứng minh việc trao quyền tự chủ giúp đồng bào dân tộc vươn lên thoát nghèo một cách tự tin. Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện đang ghi nhận đà sụt giảm tích cực qua từng năm. Ứng dụng công nghệ và liên kết chuỗi giá trị là chìa khóa then chốt cho giai đoạn tiếp theo. Địa phương cần tiếp tục nhân rộng các mô hình phát triển sinh kế tiêu biểu ra toàn huyện. Người dân cần được trang bị kỹ năng quản lý tài chính hộ gia đình. Tinh thần tự lực cánh sinh chính là động lực mạnh mẽ nhất để xóa bỏ nghèo đói. Thành công tại Minh Hóa sẽ tạo tiền đề quý báu cho công tác an sinh xã hội toàn tỉnh Quảng Bình.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong triển khai thực tế

Thực tiễn giảm nghèo tại Minh Hóa để lại nhiều bài học giá trị. Công tác lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền giữ vai trò đầu tàu. Cán bộ cơ sở phải thực sự gần dân, sát việc và hiểu văn hóa bản địa. Việc triển khai chính sách cần tránh tư duy rập khuôn máy móc. Huyện phải linh hoạt điều chỉnh chương trình theo đặc thù từng xã bản. Phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản giúp nâng cao hiệu quả vận động. Sự công khai và minh bạch trong bình xét hộ nghèo tạo được sự đồng thuận cao. Khi người dân nhận thức rõ quyền lợi, họ sẽ chủ động vươn lên làm kinh tế.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình giảm nghèo

Các mô hình giảm nghèo hiệu quả ở Minh Hóa có thể nhân rộng ra nhiều huyện miền núi. Mô hình nông lâm kết hợp rất phù hợp với địa hình dốc đứng khu vực miền Trung. Việc liên kết nông dân với doanh nghiệp tiêu thụ lâm sản tạo ra hướng đi bền vững. Các địa phương khác có thể học hỏi cách lồng ghép nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia. Sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số là yếu tố sống còn. Từng bước xây dựng cộng đồng tự quản giúp củng cố tinh thần tự lực của người dân. Đây là nền tảng cốt lõi để duy trì thành quả thoát nghèo lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/10/2026
Nghiên cứu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện minh hóa tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo * Quan niệm về nghèo Nghèo là một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định.

Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn. Hiện nay, chưa có sự thống nhất tuyệt đối quan niệm về nghèo bởi vì bản thân quan niệm này đã thay đổi rất nhanh chóng trong suốt nhiều thập kỷ qua. Ở Việt Nam, quan niệm nghèo cũng ngày càng được mở rộng. Nếu như những năm cuối thế kỷ XX nhu cầu hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến các nhu cầu tối thiểu như: ăn no, mặc ấm, thì ngày nay người nghèo còn có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa.

tức là nhu cầu giảm nghèo và phát triển. Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo. Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, nhưng lợi ích từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho người nghèo. Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong hoạch định các chính sách phát triển.

Khi nghiên cứu đến vấn đề đói, nghèo đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau của các học giả, các nhà khoa học. Chúng tôi chia sẽ và thống nhất với quan niệm về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban kinh tế và xã hội của Châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 09/1993 tại Băng Cốc-Thái Lan là: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương. 7 Ngoài khái niệm chung về đói, nghèo, trong quá trình nghiên cứu còn có một số khái niệm liên quan chỉ những khía cạnh của đói, nghèo như: Đói: Là biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, do đó không đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động; là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Hay nói cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo [1].

Nghèo: Là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất ít ỏi [1]. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống [1]. Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương [1].

Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét [1]. Nghèo đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét [1]. Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tỷ lệ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùng một thời điểm. Quốc gia nghèo: Là một quốc gia có mức thu nhập trung bình rất thấp, nguồn lực (tài nguyên, vật chất, lao động, tài chính.) cực kỳ hạn hẹp, cơ sở hạ tầng, môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế [1].

* Quan niệm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo hay còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được xem là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối 8 thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc vượt nghèo, thoát nghèo.

Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo. - Chỉ số xác định đói nghèo của thế giới: Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra thước đo nghèo đói như sau: Các nước công nghiệp phát triển: 14USD/ngày/người; các nước Đông Nam Á: 04USD/ngày/người; các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribe: 02USD/ngày/người; các nước đang phát triển: 01USD/ngày/người; các nước nghèo, một số người được xem là đói nghèo: thu nhập dưới 14 USD/ngày/người [1].

Tuy vậy, các quốc gia đều đưa ra chuẩn đói nghèo riêng của mình và thường thấp hơn chuẩn đói, nghèo mà (WB) khuyến nghị. Chẳng hạn, nước Mỹ đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập dưới 16.000 USD đối với một bộ phận gia đình (4 người) trong một năm, tương ứng 11,1 USD/ngày/người; Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 NDT/ngày/người, tương đương 0,33USD/ngày/người [1]. - Chuẩn đói, nghèo ở Việt Nam: Tổng cục thống kê đã đưa ra mức nghèo áp dụng từ năm 1998 ở Việt Nam: Nghèo đói lương thực, thực phẩm là 107.234 đồng/người/tháng. Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dựng cho giai đoạn 2016-2020 trên phạm vi toàn quốc quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020: Các tiêu chí thu nhập, chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Chuẩn nghèo 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 3.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị [11].

9 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản tiếp cận dịch vụ thông tin [11]. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020: Hộ nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 700.000 trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên [11]. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên. Hộ cận nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản [11].

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình: Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000 đồng; Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Quan niệm về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững * Quan niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là làm cho người nghèo nâng cao mức sống và thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.

Đây là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở 10 khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Trên góc độ vùng nghèo: “Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [5].

Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển KT - XH nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. * Quan niệm về giảm nghèo bền vững Là không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Bởi vì, đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì nhà nước, các cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì.

Bên cạch đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận [5].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trần Đức Đông (2024), Nghiên cứu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, Huế.
APA 7
Trần, Đ. Đ. (2024). Nghiên cứu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giam-ngheo-ben-vung-dong-bao-dan-toc-huyen-minh-hoa-quang-binh/9883464838
IEEE
Đ. Đ. Trần, "Nghiên cứu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, Huế, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giam-ngheo-ben-vung-dong-bao-dan-toc-huyen-minh-hoa-quang-binh/9883464838

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác