CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ GIỚI THIỆU CÔNG TY SCAVI. Cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Khái niệm cạnh tranh đã được đề cập rất nhiều và có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về cạnh tranh.
Porter (1985) thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình là sự bình quân hóa lợi nhuận theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Ông cho rằng để cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới dạng chi phí thấp hoặc sản phẩm có sự khác biệt để giữ được lợi thế cạnh tranh như sản phẩm tạo ra có chất lượng cao hơn, hoặc sản xuất có hiệu quả hơn.Porter đặc biệt nhấn mạnh tới năng lực tạo ra sự khác biệt, đáp ứng nhu cầu riêng của người tiêu dùng và coi đó là điều kiện tiên quyết để cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.
Cạnh tranh là một đặc tính tất yếu của nền kinh tế thị trường, là một cuộc đua không dứt. Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn kinh doanh) để đoạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu là chiếm lĩnh thị trường, tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác nhưng xét dưới góc độ toàn xã hội thì cạnh tranh luôn có tác dụng tích cực như sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn. 123doc 6 Cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh là thước đo xác định tính hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp điều chỉnh các chiến lược, cải tiến sản xuất, nhân sự. Có nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau: cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành, cạnh tranh doanh nghiệp trong ngành mà biểu hiện ra là cạnh tranh sản phẩm. Trong nghiên cứu này, tôi tập trung nghiên cứu về hình thức cạnh tranh doanh nghiệp. Cạnh tranh doanh nghiệp trong ngành là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc dành thị phần bằng cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của khách hàng nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Canh tranh sản phẩm là sự ganh đua về chất lượng, giá cả, hình thức, mẫu mã. của các sản phẩm cùng loại nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Với quan điểm này, cạnh tranh sản phẩm biểu hiện ở các hình thức khác nhau như: cạnh tranh về đặc tính, cạnh tranh về giá cả, cạnh tranh về thương hiệu. Vấn đề cạnh tranh sản phẩm buộc các nhà sản xuất phải làm sao để sản xuất ra những sản phẩm với chất lượng tốt bằng chi phí rẻ nhất và thời gian ngắn nhất.
Cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm là hai hình thức cạnh tranh luôn gắn liền với nhau. Thước đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp đó trên thị trường. Năng lực cạnh tranh. Theo Phạm Thị Bích Ngọc (2010), “một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng loại.
Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được định đoạt bởi năng lực 123doc 7 cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp”. Dưới đây là một số các quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: - Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp (Đỗ Huy Hà, 2011). Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
- Thứ hai, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Porter (1985), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp. Từ các quan điểm về năng lực cạnh tranh đã nêu ở trên có thể thấy rằng, tuy có một số cách tiếp cận khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng các quan niệm này đều thống nhất cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua thị trường là khả năng giành và chiếm thị trường bằng giá cả, chất lượng và sự khác biệt.
Vì vậy, theo tác giả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất, tạo ra sản phẩm có giá cả, chất lượng và tính độc đáo có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm tương tự trên thị trường để giành được thị phần tương xứng. Năng lực lõi là tất cả các kiến thức, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiêm cơ bản cho hoạt động của doanh nghiệp và mang đến cho doanh nghiệp tính đặc thù riêng biệt. Năng lực cốt lõi có thể là công nghệ, bí quyết kỹ thuật, mối quan hệ thân thiết với khách hàng, hệ thống phân phối, thương hiệu mạnh. Năng lực cốt lõi là sự hợp nhất, gom tất cả công nghệ và chuyên môn của công ty vào mục tiêu.
Lợi thế cạnh tranh. Có thể chia lợi thế cạnh tranh thành 2 nhóm cơ bản: Lợi thế về chi phí thấp, lợi thế về sự khác biệt. Lợi thế cạnh tranh là sự lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nhờ cống hiến giá trị lớn hơn, hoặc do có giá rẻ hơn, hay vì cung cấp nhiều lợi ích hơn, đủ biện minh cho mức giá cao của mình. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp sức mạnh từ các nguồn lực hiện có và có thể huy động được của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua nguồn nhân lực, nguồn vật lực, nguồn lực tài chính tổ chức, kinh nghiệm… Dựa vào mô hình chuỗi giá trị của M.Porter để đánh giá các yếu tố nội bộ doanh nghiệp tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Porter, doanh nghiệp có thể được xem như một chuỗi các họat động chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành đầu ra (chuỗi giá trị - value chain). Các sản phẩm (đầu ra) của doanh nghiệp sẽ được khách hàng nhìn nhận, đánh giá giá trị theo quan điểm của họ. Nếu khách hàng đánh giá cao, họ sẽ sẵn sàng trả mức cao hơn cho sản phẩm của doanh nghiệp; ngược lại, nếu họ đánh giá thấp, thì doanh nghiệp hạ giá xuống.
Các hoạt động chuyển hóa đó làm gia tăng 123doc 9 giá trị cho sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp.Porter gọi đó là các hoạt động tạo ra giá trị và khái quát thành chín nhóm hoạt động và phân ra thành hai loại: - Các hoạt động chủ yếu là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra những hình thái vật chất của sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Các hoạt động này bao gồm hoạt động hậu cần đầu vào, chế tạo sản phẩm, hậu cần đầu ra, marketing và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng. - Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo ra các cơ sở và điều kiện cần thiết kế để tiến hành các hoạt động chính. Các hoạt động này bao gồm những yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của doanh nghiệp, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và hoạt động thu mua đầu vào.
G F A Cấu trúc hạ tầng của công ty Các hoạt Quản trị nguồn nhân lực động Phát triển công nghệ Phần hỗ trợ Mua sắm / thu mua lời E Các hoạt Các hoạt Marketing H động đầu Vận động đầu và bán Dịch vụ vào hành ra hàng B C D Các hoạt động chủ yếu Hình 1. 1: Dây chuyền giá trị của công ty. Những tổ chức thành công thường là những tổ chức độc đáo, khác biệt bởi nó tạo ra những giá trị, chuẩn mực, những niềm tin, những nghi thức riêng biệt có hiệu quả cho sự phát triển của tổ chức và trong việc hướng dẫn các hành vi của người lao động (Nguyễn Hữu Lam, 2007). 123doc 10 Văn hóa tổ chức bao gồm những chuẩn mực, các giá trị, nguyện vọng và niềm tin cơ bản mà lãnh đạo doanh nghiệp kiên trì theo đuổi thông qua những chương trình hành động của mình.
Văn hóa tổ chức còn được thể hiện ở cách thức nhà quản trị ra các quyết đinh, thái độ của doanh nghiệp đối với việc thực hiện các trách nhiệm xã hội. Cơ cấu tổ chức và quản trị. Nhà quản trị là người quyết định cơ cấu của tổ chức và đóng vai trò đầu tàu trong việc phát triển tổ chức. Thay đổi và phát triển tổ chức là một nhiệm vụ thường xuyên liên tục và đồng thời là một hoạt động quan trọng của nhà quản trị đặc biệt trong điều kiện của môi trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức phù hợp là yếu tố quan trọng nâng cao sức mạnh của tổ chức trong việc cạnh tranh với các đối thủ. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực bao gồm các nhà quản trị các cấp và người thừa hành trong doanh nghiệp. Khi phân tích nhà quản trị các cấp cần phải xem xét và đánh giá những khía cạnh cơ bản như các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị và những lợi ích mà nhà quản trị mang lại cho tổ chức.