CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Khái quát về chính sách bảo trợ xã hội 1. Một số khái niệm 1. Chính sách công: Là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội là công cụ tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể gắn với giải quyết các công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng cầm quyền.
An sinh xã hội Nguyễn Hải Hữu (2007) định nghĩa “ASXH là một hệ thống các cơ chế chính sách các giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động hoặc vì các nguyên nhân khác rơi vào nghèo khổ, bần cùng và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp đặc biệt”. Chính sách xã hội Là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, được cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất chế độ xã hội (chính trị), phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội. Trợ giúp xã hội Là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thu thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận. Hầu hết các khoản trợ cấp được dựa trên cơ sở đánh giá gia cảnh hoặc thu nhập nhất định.
Theo quan điểm hiện đại trợ giúp xã hội bao gồm 3 loại hình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình, dịch vụ xã hội. Bảo trợ xã hội (social protection) Bảo trợ xã hội ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. BTXH theo nghĩa rộng có khái niệm nội hàm và vai trò giống như ASXH; còn BTXH theo nghĩa hẹp (truyền thống) là hệ thống cơ chế, chính sách và các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội (còn gọi là đối tượng xã hội) ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng như: người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, người bị nhiễm HIV/AIDS, những nạn nhân của thiên tai và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác.23] BTXH theo nghĩa hẹp không có đầy đủ chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho tất cả các thành viên trong xã hội. Độ bao phủ của nó chỉ giới hạn trong phạm vi các đối tượng BTXH chứ không phải hướng tới các thành viên trong xã hội và hoạt động của nó cũng mang tính bị động đối phó với rủi ro hơn là chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội (CSBTXH) CSBTXH bao gồm cả hệ thống chính sách của nhà nước như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách cứu đói, chính sách hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục cho bộ phận dân cư yếu thế. Vì vậy BTXH có vai trò và là trách nhiệm của nhà nước, không những thế mà còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời BTXH không phải là giải pháp toàn diện về ASXH mà là 10 một phần của ASXH.15] Chính sách của nhà nước về BTXH là hệ thống các quy định, giải pháp hỗ trợ của nhà nước đối với các đối tượng BTXH với mục tiệu giúp các đối tượng khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống. Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất khác cho các nhóm đối tượng. Phân loại đối tượng bảo trợ xã hội Tùy theo cách tiếp cận và nghiên cứu mà có các cách phân loại đối tượng bảo trợ xã hội như sau: + Theo đối tượng, bao gồm: (i) Trẻ em mồ côi: cả cha lẫn mẹ, trẻ em mồ côi cha, mồ côi mẹ, trẻ em bị bỏ rơi.;(ii) Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng.
Người khuyết tật nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em, Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi…;(iii) Người cao tuổi: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng…;(iv) Người nhiễm HIV nghèo không có khả năng lao động; (v) Đối tượng khó khăn khác…. + Theo loại hình thực hiện, bao gồm: (i) Trợ giúp xã hội đột xuất; (ii) Trợ cấp xã hội hàng tháng; (iii) Trợ giúp giáo dục, đào tạo và dạy nghề… 1. Đặc trưng của chính sách bảo trợ xã hội Người được trợ cấp thông thường không phải trực tiếp đóng góp toàn bộ chi phí trợ giúp xã hội do nhà nước chi trả và đóng góp từ các tổ chức xã 11 hội khác.thực tế khi đã là đối tượng bảo trợ xã hội thì người dân không còn khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn tự đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình. Vì vậy, người được trợ cấp xã hội không bị ràng buộc bởi những điều kiện đóng góp, nguồn quỹ trợ cấp thường do các tổ chức, cá nhân hoặc nhà nước gây dựng.244] Thông thường thì trợ cấp xã hội sẽ góp phần cùng với gia đình và bản thân đối tượng đảm bảo cho mức sống của đối tượng được trợ cấp bằng hoặc cao hơn mức sống tối thiểu của nhân dân cùng khu vực cư trú.
Vì vậy, hạn mức trợ cấp xã hội thường được nghiên cứu dựa trên nhu cầu thực tế của từng đối tượng cụ thể được trợ giúp, đồng thời đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.244] Trợ giúp xã hội đột xuất thông thường là hình thức cứu trợ khẩn cấp, chỉ cứu trợ một lần với các hình thức trợ giúp bằng: tiền, lương thực hoặc các hiện vật khác như: nhu yếu phẩm, dụng cụ sinh hoạt, đồ dùng cá nhân. Vai trò của chính sách bảo trợ xã hội - Thực hiện chức năng tái cơ cấu của cải xã hội: Nhà nước tăng cường nguồn lực đối với các vùng nghèo, vùng chậm phát triển thông qua nguồn thu thuế để thực hiện chính sách TGXH nhằm tiến đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các vùng, từng bước hạn chế và khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng và giữa các nhóm dân cư. Nguyên tắc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Chính sách BTXH được tổ chức thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ quy trình tổ chức thực hiện một hợp phần chính sách của nhà nước vì vậy phải đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của mục tiêu chính sách đó là trợ giúp có thể là đột xuất hoặc thường xuyên đối với các đối tượng khó khăn trong xã hội vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn. Đảm bảo tính hiệu lực 12 Đảm bảo tính hiệu lực là nhằm đạt được mục tiêu mong muốn của nhà nước.
Bảo đảm cân đối các nguồn lực và dự lường được các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình thực hiện chính sách. Đảm bảo tính hiệu quả Để đảm bảo tính hiệu quả, việc thực hiện chính sách BTXH cần phải đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra với một mức chi phí hợp lý nhất, tiến độ thực hiện chính sách đảm bảo theo kế hoạch hoặc dao động trong khoảng thời gian cho phép. Đảm bảo tính công bằng Chính sách BTXH tổ chức thực hiện đã được phân loại theo từng nhóm với từng tiêu chí. Tuy nhiên trong từng nhóm đối tượng lại có từng loại đối tượng cụ thể khác nhau.
Vì vậy, khi xác định từng loại đối tượng cụ thể cần phải xác định đúng, tính đủ đảm bảo công bằng trong thực thi chính sách. Đảm bảo tính công khai, minh bạch Đảm bảo tính công khai, minh bạch là công khai hóa, minh bạch hóa các quá trình trong thực hiện chính sách đến chủ thể thụ hưởng chính sách cũng như chủ thể ban hành chính sách 1. Vấn đề chính sách bảo trợ xã hội 1. Công cụ chính sách bảo trợ xã hội - Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: TGXH được thể hiện thông qua Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản hướng dẫn của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Thông tư) và các quy định của cấp địa phương.
Tùy từng chính sách để thể chế văn bản cho phù hợp. Có những chế độ trợ giúp chỉ thực hiện trong ngắn hạn thì chưa nên thể chế trong văn bản Luật, hoặc ngược lại có chế độ cần được bảo đảm bằng hệ thống Luật thì mới bền vững và ổn định lâu dài. Thông thường, chính sách và cơ chế tài chính được 13 quy định do thể chế chính sách, nhưng trong TGXH có những giai đoạn việc thể chế chính sách phụ thuộc vào nguồn lực tài chính vì điều kiện ngân sách chưa bảo đảm. Vì có sự khác biệt này mà có chế độ chính sách TGXH chưa bao phủ 100% đối tượng ngay khi chính sách ban hành.
- Kế hoạch chính sách: Là tập hợp các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể và các biện pháp thực hiện chính sách trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực hoàn thành mục tiêu chính sách đã đề ra. Các kế hoạch phải đảm bảo các nguyên tắc và các bước yêu cầu của xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách.