Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE THUC HANH QUYEN CONG TO VA KIEM SAT DIEU TRA CAC VU AN MUA BAN NGUOT 1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người 1. Khải niệm tội mua bản người Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng sự ra đời của nhà nước và pháp luật, cũng như xã hội phân chia giai cấp đối kháng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định những hành vi nào là tội phạm và áp dụng TNHS và hình phạt đối với người đã thực hiện hành vị đó.
Dưới góc độ pháp luật, theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyên, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyên, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải xử lý hình sự. Mua bán người là một loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội được toàn nhân loại phản đối, lên án rất mạnh mẽ. Tội mua bán người làm rối loạn tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm nhân quyên. Dé lại hậu quả nặng nề cả về sức khỏe và tỉnh thần của con người.
Tuy có những đặc điểm chung của một loại hình tội phạm nhưng quan niệm về tội mua bán người ở mỗi quốc gia so với các quy định của quốc tế có sự khác biệt, tùy vào mức độ rộng hẹp và cách hiểu khác nhau [2]. Theo Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vì buôn người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 đưa ra khái niệm: Buôn bán người là việc mua bán, vận chuyên, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt hay lạm dụng quyền lực hoặc hoàn cảnh dễ bị tốn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột bao gồm: việc bóc lột mại dâm người khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lay đi các bộ phận cơ thể [20, Điều 3]. Các văn bản quy phạm pháp luật về Phòng chống mua bán người của Việt Nam từ trước đến nay, kế cả Luật phòng chống mua bán người năm 2011 và BLHS đều không có định nghĩa về mua bán người mà quy định cụ thể về tội mua bán người và mua bán người dưới 16 tuổi.
Theo quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bố sung năm 2017 về tội mua bán người (Điều 150), tội mua bán người đưới 16 tuổi (Điều 151) và Nghị quyết số 02/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 150 và Điều 151 thì có thể thấy Khái niệm về tội mua bán người ở Việt Nam không còn bó hẹp như trước đây mà đã được mở rộng, phù hợp với Luật mua bán người năm 2011 và tiếp cận với định nghĩa buôn bán người của Nghị định thư về phòng chống mua bán người, theo đó, Mua bán người được hiểu bao gồm cả ba yếu tố: (1) Hành vi; (2) Phương thức, thủ đoạn; (3) Mục đích phạm tội [49]. Khác với Nghị định thư sử dụng thuật ngữ quốc tế là “buôn bán người ”, pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “mua bán người” đề mô tả hành vi nay, theo đó “mua bán người là hành vỉ dùng tiên, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi người (Từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa”. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2009 của Hội đồng Tham phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 11/01/2019 thì: 1. Mua bán người là thực hiện một trong các hành v1 sau đây: a) Chuyển giao nguoi đề nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Tiếp nhận người dé giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Cc) Chuyén Ø1ao người dé người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lây bộ phận cơ thê của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; đ) Tuyên mộ, vận chuyền, chứa chấp người khác đề thực hiện hành vi chuyên giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.
Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây: a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; c) Chuyên giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lay bộ phận cơ thể hoặc vì mục địch vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận người dưới l6 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lay bộ phận co thể hoặc vì mục địch vô nhân đạo khác; đ) Tuyển mộ, vận chuyên, chứa chấp người dưới l6 tuôi để thực hiện hành vi chuyền giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này. Trên cơ sở quan niệm, quy định nói trên có thể thấy rằng việc xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mua bán người là cần căn cứ vào các yêu tố cầu thành tội phạm của các hành vi phạm tội. Từ đó, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, có thể khái niệm: “Tôi mua bản người là hành vì nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố 7 nhằm mua hoặc bản người vì lợi ích cả nhân hoặc vì mục dich khác và phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS ”. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán người Đề nâng cao chất lượng hoạt động THỌCTT và KSĐT các vụ án mua bán người, trước hết cần phải nắm vững các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán người.
Việc nắm vững các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này là căn cứ để nghiên cứu đường lối, giải pháp, biện pháp đấu tranh, phòng chống phù hợp, đồng thời giúp cho cơ quan, người có thâm quyền có thể xác định hành vi đã xảy ra có cầu thành tội phạm hay không, cấu thành tội danh cụ thê nào. Qua nghiên cứu về tội mua bán người, có thể khái quát các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người theo quy định hiện hành như sau: * Khách thể của tội phạm Theo quy định tại Điều § BLHS năm 2015 thì khách thể của Luật hình sự là những quan hệ xã hội được Nhà nước xác định cần bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật hình sự. Khách thể của tội mua bán người xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật bảo vệ. Người phạm tội coi con người như một loại hàng hóa để mua, bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lợi hoặc vì mục đích khác [25].
* Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu như: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian, địa điểm, phương tiện và công cụ phạm tội. Trong các dấu hiệu trên thì hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc ở mọi tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Đối với tội mua bán người thì hành vi mua bán. là hành vi xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phâm con người, là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi mua bán người thê hiện ở hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi, mua bán người như một thứ hàng hóa. Người phạm tội coi người bị hai như một loại hàng hóa và có ý thức để trao đổi, mua bán. Trường hợp người bị hại đồng ý hay không đồng ý thì người thực hiện hành vi mua bán vẫn bị truy cứu TNHS vì người phạm tội ý thức được hành vi mua bán của mình. Đề thực hiện việc phạm 10 tội, người phạm tội có thé dùng các hành vi như sử dụng vũ lực, đe dọa dùng võ lực, lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc bằng nhiều hình thức và thủ đoạn.
Hậu quả của hành vi mua bán người là con người bị đem ra mua bán, trao đôi như hàng hóa, danh dự, nhân phẩm bị trà đạp, bị cưỡng bức lao đông, bóc lột tình dục. Tội phạm được coi là hoàn thành khi đã thực hiện việc thỏa thuận mua bán, không cần thiết phải hoàn thành việc trao đổi người hay lợi ích vật chất. Tức là nêu người phạm tội đã thực hiện một số hành vi như tìm kiếm người, liên hệ nơi bán, mua, thỏa thuận giá cả, nơi giao nhận. nhưng vì một nguyên nhân nào đó ngoài ý muốn mà họ không thực hiện được việc mua bán người thì đó là trường hợp phạm tội chưa đạt.
Người thực hiện các hành vi nêu trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người [25]. Theo Điều 150, Điều 151 BLHS năm 2015 quy định, hành vi phạm tội mua bán người là người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc băng các thủ đoạn khác thực hiện hành vi: Chuyên giao hoặc tiếp nhận người dé giao nhan tién, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lay bộ phận trên cơ thể nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyền, chứa chấp người khác đề thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b khoản này.