Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 1. Khái niệm công tố 1. Khái niệm quyền công tố Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước.
Khi tìm hiểu về quyền công tố, tôi thấy rằng đây là một đề tài rất rộng và được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Khi nghiên cứu về lịch sử xuất hiện quyền công tố, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật [23, tr. Quyền công tố xuất hiện hầu như trong tất cả các hình thức Nhà nước từ trước đến giờ đã từng xuất hiện trong lịch sử loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện các giai cấp và xảy ra mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp ấy (thường là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và bị trị) không thể điều hòa được.
Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào, khi đã xuất hiện Nhà nước thì bên cạnh lực lượng thống trị luôn có một hoặc nhiều lực lượng bị trị có thái độ thù địch chống lại lực lượng thống trị đang nắm quyền lực nhà nước. Và muốn trừng trị người phạm tội (người chống lại ý chí của giai cấp thống trị) thì phải buộc được tội của họ. Quyền nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện sự buộc tội này chính là quyền công tố [21, tr. Việc tổ chức thực hiện quyền công tố này như thế nào, nội dung của quyền công tố ra sao và 8 phạm vi của quyền công tố đến đâu được mỗi quốc gia quy định khác nhau tùy theo giai đoạn lịch sử với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Theo dòng lịch sử pháp lý Việt Nam, có thể nói Luật tổ chức VKSND năm 1981 và Hiến pháp năm 1980 là những bộ luật đầu tiên của Nhà nước đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi nói đến nhiệm vụ, chức của VKSND. Hiểu và nhận định chính xác các khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” là một phương pháp tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả khi tìm hiểu về vai trò, vị trí và chức năng của VKS. Song, cho đến nay, khi chúng ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách tư pháp, vẫn chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức thế nào là quyền công tố, nội dung và phạm vi quyền công tố như thế nào. Về vấn đề này, theo nghiên cứu của tác giả, thì có nhiều quan điểm về quyền công tố nhưng trong đó có một số quan điểm nổi bật như sau: Quan điểm thứ nhất, xuất hiện trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, quan điểm này đã hợp nhất hóa khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS.
Quan điểm này cho rằng các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng là thực hành quyền công tố: khi VKS ban hành kiến nghị yêu cầu các Cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội bị kiểm sát sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế cũng là thực hành quyền công tố. Dựa trên nền tảng chủ đạo chính là quy định của các Điều 137 và 138 Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức VKSND các năm 1981 và 1992 [17]. Biểu hiện tiêu biểu của quan điểm này quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND 1992 [18]. Theo ý kiến của tôi thì hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác, đã đồng nhất hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đồng thời cũng không phù hợp 9 với Hiến pháp.
VKS có hai chức năng chiếu theo Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 là: “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát các hoạt động tư pháp” [12, tr. Điều này được tái khẳng định một cách vững chắc trong Hiến pháp 2013 như sau: khoản 1 Điều 107 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [16]. Sự quy định rõ ràng, cụ thể hai chức năng của VKSND đã bác bỏ quan điểm này. Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc trái với các quy định của pháp luật (chống đối lại ý chí nhà cầm quyền) ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [23, tr.
Quan điểm này được đưa vào như là quan điểm chính trong học phần của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội và rất hay được nhắc đến trong các văn bản giải đáp các vấn đề vướng mắc, tổng kết các chuyên đề trước đây của VKSND. Quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác [21, tr. Nội dung quyền công tố là tổng kết các biện pháp pháp lý đặc trưng theo quy định của pháp luật tương đương mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động kiểm sát các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng dân sự, TTHS và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất [23, tr.
Đặc trưng của TTHS là phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng; còn tố tụng dân sự được tiến 10 hành với nguyên tắc đặc trưng là: quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Đồng thời, quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố trong vụ án hình sự với những nhiệm vụ, quyền hạn khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Quan điểm thứ ba cho rằng, “quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKSND nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung sử dụng để truy cứu TNHS và áp dụng các chế tài hình sự để trừng trị các pháp nhân, người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự” [21, tr. Theo quan điểm nghiên cứu của tôi thì quan điểm này chưa chính xác bởi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS: tội phạm khi được thực hiện đều xâm phạm đến lợi ích chung hoặc riêng, vì vậy người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị xử lý bằng các chế tài hình sự.
Hiểu khái niệm quyền công tố như quan điểm nêu trên, theo tôi là quá rộng đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS: buộc tội, bào chữa và xét xử. Như trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cả CQĐT và VKS đều là cơ quan tiến hành tố tụng đối với một cá nhân cụ thể. Nhưng những hoạt động buộc tội của CQĐT không phải là thực hiện quyền công tố mà đó chỉ là những hoạt động nhằm hỗ trợ cho cơ quan được Nhà nước giao thực hiện quyền công tố là VKS thực hiện sự buộc tội đối với cá nhân bị khởi tố. Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thông qua cơ quan VKSND thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Đây là quyền đặc trưng của Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội [21, tr. Điều đó thể hiện rõ nhất trong các nguyên tắc của TTHS và nguyên tắc của tố tụng dân sự. Chúng ta đều thấy rằng, do có đối tượng điều chỉnh khác 11 nhau (hành vi có dấu hiệu tội phạm và các tranh chấp dân sự) nên hoạt động TTHS và hoạt động tố tụng dân sự được tiến hành theo những nguyên tắc đặc thù khác nhau. Một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động TTHS là nguyên tắc công tố (nguyên tắc mọi hoạt động tố tụng được tiến hành trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội), nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
Người phạm tội có thể là người xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, hoặc cũng có thể là xâm hại lợi ích của người bị hại. Vì vậy, Nhà nước là người nhân danh xã hội và Toà án nhân dân sẽ nhân danh Nhà nước để thực hiện việc trừng phạt người phạm tội, giữ vững an ninh cũng như các mối quan hệ xã hội mà Nhà nước ban hành. Khác hẳn với các nguyên tắc TTHS; trong hoạt động tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết và chủ yếu thuộc về đương sự chứ không phải là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng. - Đối tượng, nội dung và phạm vi quyền công tố Trong quá trình tiếp cận tri thức khoa học pháp lý về quyền công tố, để chứng minh cho luận điểm của mình, các nhà nghiên cứu đều có những lý luận riêng để đưa ra những luận điểm về đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố.
Theo quan điểm tôi đã chọn thì đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố được hiểu như sau: + Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như để nhằm buộc được tội của người phạm tội để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại….