Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY 1. KHÁI NIỆM THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA 1. Khái niệm Quyền công tố, Thực hành quyền công tố, Kiểm sát điều tra - Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhà nước, nó tồn tại trong bất kỳ kiểu Nhà nước nào. Quyền công tố Nhà nước được hiểu là quyền của Nhà nước nhân danh lợi ích của Nhà nước và xã hội quyết định có truy tố hay không truy tố một người ra trước Tòa án để xét xử.
Việc thực hiện quyền công tố Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, danh dự, nhân phẩm, tính mạng, tài sản của công dân. Nên, bất cứ Nhà nước nào cũng quy định trình tự và thủ tục tố tụng rất chặt chẽ và phải do một chức danh pháp lý là Công tố viên (hoặc Kiểm sát viên) thực hiện. Quyền công tố được thực hiện độc lập, không ai có quyền quyết định và can thiệp vào hoạt động truy tố của Công tố viên. Có thể tổng hợp các quan điểm về quyền công tố thành 4 nhóm cơ bản sau: Nhóm quan điểm thứ nhất, cho rằng toàn bộ hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là việc thực hành quyền công tố hoặc công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng hình sự.
Nhóm quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện KSND. Nhóm quan điểm thứ hai, cho rằng quyền công tố là “quyền của Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước bảo vệ lợi ích công (Nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật”. Vì vậy, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố không chỉ trong tố tụng hình sự mà cả trong lĩnh vực dân sự, kinh tế và các hoạt động tư pháp khác. Đây là nhóm quan điểm chính thống của Ngành Kiểm sát trong suốt quá trình từ 1960 - 1985 và được đưa vào 8 chương trình giảng dạy chính thức của trường Bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát Hà Nội.
Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và Pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự và quyền công tố còn được mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động mà thể hiện của nó là Viện Kiểm sát có quyền khởi tố vụ án dân sự, lao động. Nhóm quan điểm thứ ba, quan niệm quyền công tố là “quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội” hoặc là “quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Hoặc đó là hoạt động tố tụng của CQĐT, VKSND, TAND trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội. Theo quan điểm này, thì các cơ quan tiến hành tố tụng đều là chủ thể của quyền công tố và quyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự.
Như vậy, họ đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự, ranh giới của các chức năng cơ bản điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng hình sự bị xóa nhòa, dễ nhầm lẫn giữa các chức năng buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự. Nhóm quan điểm thứ tư, cho rằng quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này được Nhà nước giao cho cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát thực hiện. Để thực hiện quyền này, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm, người phạm tội và trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.
Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm pháp luật bị coi là tội phạm. Theo đó, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không có trong bất kì lĩnh vực nào khác. Theo pháp luật hiện hành quyền công tố gắn với hoạt động điều tra và xét xử nên có thể đi đến kết 9 luận quyền này ở nước ta được Nhà nước giao cho Viện KSND thực hiện mà không có cơ quan nào được phép thay thế. Nhìn tổng thể các quan điểm nêu trên cho thấy, mỗi nhóm quan điểm đều được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta, các quan điểm đều thể hiện tính hợp lí.
Tuy nhiên, đa số các quan điểm còn có những bất cập, họ đã đồng nhất thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật hoặc coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự hoặc coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra tòa và thực hiện buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Các quan điểm này là quá mở rộng phạm vi hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố. Hạn chế chính của nó là không phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Từ những vấn đề nêu trên, tác giả cho rằng: Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho Viện Kiểm sát để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội đối với người đó trước phiên tòa.
- Thực hành quyền công tố: Ngay sau khi nước nhà giành độc lập, ngày 02/9/1945 hoạt động công tố của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nằm trong Tòa án. Sự phát triển của ngành Công tố từ năm 1945 đến trước năm 1958 chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Tòa án. Ngày 01/7/1958, Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định nhiệm vụ của cơ quan công tố trong điều tra là: điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự. Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 bắt đầu quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, Luật tổ chức VKSND đã thể hiện Viện KSND không chỉ có chức năng thực hành quyền công tố mà thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp.
10 Tại Điều 138 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và Điều 1 Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định Viện KSND có “chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố theo Hiến pháp và pháp luật”. Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành tác giả thấy cần coi thực hành quyền công tố là Viện KSND sử dụng các quyền năng pháp lí theo luật định để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội nhằm đảm bảo việc truy tố tội phạm được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúng tội. - Kiểm sát điều tra có nguồn gốc từ thuật ngữ “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có phạm vi rộng hơn, đối tượng nhiều hơn, còn đối tượng của kiểm sát điều tra chỉ có hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.
Từ điển Luật học cho rằng kiểm sát điều tra là “Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” (Từ điển Luật học 1999, trang 260, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội). Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa thật đầy đủ. Kiểm sát điều tra được hiểu là hoạt động giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra thực hiện khi điều tra vụ án hình sự. Từ đó, có thể rút ra khái niệm: “Kiểm sát điều tra là Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật toàn bộ các hoạt động xảy ra trong quá trình Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra nhằm đảm bảo cho việc điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, chống bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội”.
Khi vụ án ở giai đoạn điều tra, Viện KSND có chức năng giám sát các hoạt động điều tra. Việc giám sát này được thể hiện qua kiểm sát việc khởi tố; kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; sự giám sát của KSV tại nơi ĐTV thực hiện các hoạt động điều tra như: khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, hỏi cung bị can, đối chất… hoặc kiểm sát việc điều tra thông qua kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, nội dung, hình thức tài liệu có trong hồ sơ vụ án. 11 Viện KSND còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng như: bị can, người làm chứng, Luật sư, người giám định, người phiên dịch… Để đảm bảo các quyền lợi của họ; đồng thời, đảm bảo cho việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra… Mục đích của KSĐT là nhằm đảm bảo cho ĐTV thực hiện đúng các quy định của pháp luật, phát hiện kịp thời những thiếu sót, vi phạm để đề nghị khắc phục, sửa chữa, chống oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Khái niệm Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy Thuật ngữ “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra” lần đầu tiên xuất hiện tại Chương II, Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là hai chức năng của Viện KSND được quy định trong Bộ luật TTTHS năm 2003 và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Hai chức năng này được Viện KSND tiến hành đồng thời, hỗ trợ cho nhau trong điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án ma túy nói riêng.