Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 1. Khái niệm thực hành quyền công tố * Quyền công tố Tại Việt Nam, thuật ngữ "quyền công tố" với tư cách là quyền năng của VKS lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980, sau đó là Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, BLTTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm 1981, Luật tổ chức VKSND năm 1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên 2011. Ngày nay, thuật ngữ này đã trở lên phổ biến hơn.
Tuy nhiên, trong khoa học luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố. Quan điểm thứ nhất: Đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố. Theo đó, "tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố" [15, tr.
Có nghĩa là ngay cả khi VKS kiến nghị, yêu cầu các cơ quan nhà nước khắc phục, sửa chữa những sai phạm của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội thì đó cũng là hoạt động THQCT. Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan điểm thứ hai: "Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho Viện kiểm sát nhân dân" [15, tr. Quan điểm này cho rằng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội và các ngành luật nó đã lan sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động.
Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát. Theo quan điểm này, quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Quan điểm này quá mở rộng dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác. Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền đại diện, nhân danh nhà nước thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa, tức là chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử.
Ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân [53, tr. Theo quan điểm này việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử. Theo tôi, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố; không những vậy, nó còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố, còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT bởi vì truy tố và buộc tội trước Tòa chỉ là một trong số các quyền năng cụ thể của hoạt động THQCT tại giai đoạn xét xử. Quan điểm thứ tư: "Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [53, tr.
Quan điểm này cho rằng quyền công tố chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự và chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (CQĐT, Tòa án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tắc truy cứu trách nhiệm hình sự rằng tội phạm phải bị truy cứu và bị trừng trị, đã nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử …). Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [39, tr. Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong tố tụng hình sự; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKS, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được.
Như vậy có thể thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố… Tác giả Lê Hữu Thể đã viết: Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố cần phải xem xét nó trong mối quan hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể, quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ đó cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền, không thể tách rời việc nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó (đó là tội phạm) tức lĩnh vực tố tụng hình sự [39, tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tháng 7/1967, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kết luận rất quan trọng về quyền công tố và trách nhiệm của ngành kiểm sát: Công tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ nhà nước nào. Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố.
Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt. - Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [9, tr. - Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729 ngày 14/3/2002) về dự án Luật Tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [44, tr. - Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân, quán triệt những nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSND tối cao đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp" [37, tr. Từ những dẫn chứng trên, tôi bày tỏ sự đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể, cũng chính là quan điểm thứ 5 đã nêu trên: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa [39, tr 40]. * Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Thời gian qua, vấn đề THQCT, phạm vi và nội dung của nó, mối quan hệ giữa chức năng THQCT với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự còn ít được đề cập và chưa được rõ ràng.
Một số chuyên đề về nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp do VKSND tối cao tổ chức cũng chỉ đua ra một số biện pháp pháp lý, kiến nghị để nâng cao hiệu quả các công tác thực hiện chức năng như: KSĐT, kiểm sát xét xử, THQCT. Trong nội dung nghiên cứu của các chuyên đề này chưa phân biệt rành mạch hành vi tố tụng nào là THQCT, hành vi tố tụng nào là thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Cho đến nay, nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn của các cơ quan tư pháp còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT, giữa thẩm quyền của VKS và các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó.