Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2010 - 2014, tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại tỉnh Hưng Yên diễn ra vô cùng mạnh mẽ với sự hình thành của 5 khu công nghiệp tập trung quy mô lớn như Phố Nối A (390 ha), Phố Nối B (250 ha) cùng mật độ dân số đạt 1.209 người/km2 trên diện tích tự nhiên 923,09 km2. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh và quá trình thu hồi đất nông nghiệp tại 93 xã, thị trấn cũng kéo theo những diễn biến phức tạp về an ninh trật tự. Tình trạng tụ tập đông người, khiếu kiện vượt cấp, cản trở giao thông trên các tuyến quốc lộ huyết mạch như Quốc lộ 5A (dài 23 km chạy qua địa bàn tỉnh) và các hành vi gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng rõ rệt cả về quy mô lẫn tính chất manh động.
Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng theo tinh thần Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Hưng Yên trên địa bàn 10 đơn vị hành chính (gồm 1 thành phố và 9 huyện) trong suốt 5 năm (2010 - 2014). Qua việc xử lý 507 tố giác, tin báo tội phạm và giải quyết 143 vụ án cụ thể, luận văn cung cấp các giải pháp mang tính đột phá nhằm giảm tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hạn chế tối đa việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, góp phần củng cố trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005. Khung lý thuyết trọng tâm tập trung vào hai nhánh chính:
Thứ nhất, lý thuyết về chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Theo đó, quyền công tố là quyền năng pháp lý độc lập của Viện kiểm sát trong việc nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, bảo đảm tính có căn cứ của sự buộc tội từ giai đoạn khởi tố cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Chức năng kiểm sát điều tra đóng vai trò giám sát, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong toàn bộ hoạt động của Cơ quan điều tra và người tham gia tố tụng.
Thứ hai, lý thuyết về cấu thành tội phạm và dấu hiệu định tội của Tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) kết hợp các hướng dẫn định lượng tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hệ thống khái niệm cốt lõi được làm rõ bao gồm: trật tự công cộng, quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, tính chất nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nghiêm trọng của hành vi vi phạm.
Phương pháp nghiên cứu
Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, luận văn áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ toàn bộ hồ sơ nghiệp vụ, báo cáo thống kê tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Viện kiểm sát nhân dân 10 huyện, thành phố trong giai đoạn 5 năm (từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2014). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 507 tin báo, tố giác tội phạm và 143 vụ án với 381 bị can đã được khởi tố, thụ lý điều tra.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling) được áp dụng cho toàn bộ các vụ án gây rối trật tự công cộng phát sinh trong khung thời gian nghiên cứu nhằm triệt tiêu sai số và phản ánh bức tranh thực tiễn toàn diện. Phương pháp thống kê hình sự, phân tích định lượng, so sánh đối chiếu và tổng hợp quy nạp được lựa chọn để bóc tách từng chỉ số tố tụng: tỷ lệ khởi tố, số lượng vụ án đình chỉ, tạm đình chỉ, các trường hợp hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật và tỷ lệ hồ sơ bị trả để điều tra bổ sung giữa các giai đoạn tố tụng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực chứng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên giai đoạn 2010 - 2014 đã ghi nhận các kết quả then chốt sau:
Thứ nhất, về công tác xử lý tin báo và khởi tố vụ án, ngành Kiểm sát Hưng Yên đã kiểm sát việc giải quyết 507 tố giác, tin báo về tội gây rối trật tự công cộng. Trong số này, có 143 vụ (chiếm tỷ lệ 28,2%) được ra quyết định khởi tố điều tra; 302 vụ (chiếm 59,6%) ra quyết định không khởi tố do hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm; và 62 vụ (chiếm 12,2%) được chuyển xử lý vi phạm hành chính. Viện kiểm sát đã chủ động ban hành 12 văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng trên tổng số 231 yêu cầu khởi tố án hình sự các loại.
Thứ hai, về kết quả điều tra và xử lý bị can, trong tổng số 143 vụ án/381 bị can thụ lý điều tra, Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố 134 vụ/372 bị can (đạt tỷ lệ 93,7%); quyết định tạm đình chỉ điều tra 7 vụ/6 bị can (chiếm 4,9%); và đình chỉ điều tra 2 vụ/3 bị can (chiếm 1,4%). Toàn bộ 134 vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố đều được Viện kiểm sát ban hành cáo trạng truy tố ra trước Tòa án.
Thứ ba, về chất lượng kiểm sát và tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát đã phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung 8 vụ (chiếm 5,97% tổng số vụ đề nghị truy tố). Đáng chú ý, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân hai cấp đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung 13 vụ (chiếm 9,7% tổng số vụ xét xử), phản ánh những thiếu sót nhất định trong việc thu thập chứng cứ và định tội danh ở giai đoạn điều tra ban đầu.
Thảo luận kết quả
Diễn biến số liệu án gây rối trật tự công cộng qua các năm thể hiện sự biến động rõ rệt: năm 2010 thụ lý 21 vụ, năm 2011 tăng lên 28 vụ, năm 2012 giảm xuống 17 vụ, nhưng đến năm 2013 tăng vọt lên đỉnh điểm với 35 vụ (tăng hơn 105% so với năm 2012), trước khi giảm về 23 vụ trong năm 2014. Khi trực quan hóa qua biểu đồ phân bố và bảng tổng hợp tình hình giải quyết án, dữ liệu phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa các điểm nóng giải phóng mặt bằng, thu hồi đất công nghiệp với sự gia tăng đột biến của tội phạm xâm phạm trật tự công cộng.
Nguyên nhân dẫn đến việc hồ sơ bị trả để điều tra bổ sung (tổng cộng 21 lượt ở cả hai cấp kiểm sát và xét xử) chủ yếu bắt nguồn từ việc xác định ranh giới giữa tội gây rối trật tự công cộng với các tội danh có tính chất tương đồng như Cố ý gây thương tích (Điều 104 BLHS), Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS) hoặc Chống người thi hành công vụ (Điều 257 BLHS). Khái niệm hậu quả nghiêm trọng theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP bao gồm các tiêu chí định tính phi vật chất (như ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an địa phương) thường phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Một số Kiểm sát viên chưa bám sát hiện trường ngay từ đầu, dẫn đến việc thiếu hụt lời khai nhân chứng, sơ đồ hiện trường chưa chuẩn xác hoặc chưa chứng minh rõ nét ý thức chủ quan và vai trò của từng đối tượng cầm đầu trong các vụ việc tụ tập đông người.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra trong thời gian tới:
Thứ nhất, tăng cường trách nhiệm công tố gắn liền với hoạt động điều tra theo phương châm gắn công tố với điều tra. Kiểm sát viên phải chủ động tiếp cận 100% các nguồn tin báo, tố giác tội phạm phức tạp ngay từ đầu; trực tiếp tham gia các hoạt động khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người làm chứng và hỏi cung bị can then chốt. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hồ sơ bị Tòa án trả để điều tra bổ sung xuống dưới mức 3% trong giai đoạn 2015 - 2020. Chủ thể thực hiện là Lãnh đạo Viện và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.
Thứ hai, kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Đề xuất Quốc hội và các cơ quan tư pháp trung ương lượng hóa cụ thể hơn các tình tiết định tội phi vật chất trong cấu thành tội gây rối trật tự công cộng, đồng thời quy định cơ chế bắt buộc Viện kiểm sát phải trực tiếp kiểm tra chứng cứ hiện trường trước khi phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam. Chủ thể kiến nghị là Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan xây dựng pháp luật.
Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ Kiểm sát viên. Tổ chức định kỳ tối thiểu 02 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng xử lý các vụ án đông người, kỹ năng phân loại đối tượng kích động và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Chú trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị để cán bộ kiểm sát kiên quyết bảo vệ pháp luật. Chủ thể thực hiện là Phòng Tổ chức cán bộ phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và tăng cường quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra. Duy trì nghiêm túc chế độ giao ban định kỳ hằng tháng giữa Lãnh đạo hai ngành để rà soát 100% các tin báo quá hạn, các vụ án tạm đình chỉ; kịp thời ban hành kiến nghị khắc phục các vi phạm về thủ tục tố tụng và thời hạn giải quyết án của Điều tra viên. Chủ thể phối hợp là Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân và Lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra hai cấp tỉnh Hưng Yên.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:
Kiểm sát viên và cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân: Tài liệu cung cấp hệ thống kỹ năng chuẩn mực trong việc kiểm sát khám nghiệm hiện trường, phương pháp xây dựng bản yêu cầu điều tra chất lượng cao và cách thức kiểm soát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, giúp loại bỏ nguy cơ làm oan hoặc bỏ lọt tội phạm.
Điều tra viên và cán bộ Cơ quan Cảnh sát điều tra: Nắm vững các tiêu chuẩn chứng minh tội phạm đối với hành vi gây rối trật tự nơi công cộng, phương pháp phân hóa vai trò đồng phạm trong các vụ án tụ tập đông người và kỹ năng hoàn thiện hồ sơ vụ án đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự: Luận văn là nguồn tư liệu học thuật giá trị, cung cấp bộ dữ liệu thực tiễn gồm 143 vụ án được xử lý trong 5 năm tại một địa bàn kinh tế trọng điểm, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy chuyên sâu.
Các cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách tư pháp: Cung cấp bằng chứng thực tiễn sinh động về những vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật thực định, làm tiền đề hữu ích cho việc đóng góp ý kiến hoàn thiện các dự thảo Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi.
Câu hỏi thường gặp
Điểm khác biệt căn bản giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là gì?
Thực hành quyền công tố hướng trực tiếp vào tội phạm và người phạm tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, thực hiện sự buộc tội của Nhà nước. Trong khi đó, kiểm sát điều tra hướng vào hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan điều tra nhằm bảo đảm tính hợp pháp, không để xảy ra vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra.
Hành vi như thế nào được coi là gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự?
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP, hậu quả nghiêm trọng bao gồm hành vi gây cản trở giao thông đến dưới 2 giờ, đình trệ hoạt động cơ quan nhà nước, gây thiệt hại tài sản từ 10 triệu đồng trở lên, gây chết người, hoặc gây thương tích cho người khác với tỷ lệ từ 31% trở lên.
Tại sao các vụ án gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên lại tăng mạnh vào năm 2013?
Năm 2013 ghi nhận số lượng án thụ lý cao nhất với 35 vụ (tăng gấp đôi so với 17 vụ của năm 2012) do trùng với thời điểm đẩy mạnh thu hồi đất công nghiệp và dồn thửa đổi ruộng tại các huyện trọng điểm, làm phát sinh tranh chấp đền bù và các cuộc tụ tập phản đối đông người tại nơi công cộng.
Viện kiểm sát có quyền xử lý như thế nào nếu phát hiện quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra không có căn cứ?
Căn cứ quy định tại Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát có toàn quyền ban hành quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố không có căn cứ của Cơ quan điều tra và yêu cầu ngừng mọi hoạt động tố tụng đối với vụ việc đó.
Vì sao tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các vụ án này lại chiếm tới 9,7%?
Tỷ lệ này xuất phát từ việc hồ sơ ban đầu chưa thu thập đầy đủ tài liệu định lượng mức độ thiệt hại tài sản, chứng cứ chứng minh thời gian ách tắc giao thông chưa chuẩn xác, hoặc chưa làm rõ ý thức đồng phạm giữa các đối tượng kích động và người tham gia thụ động.
Kết luận
- Khẳng định toàn diện vai trò nòng cốt của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.
- Tổng kết thực tiễn 5 năm (2010 - 2014) với 143 vụ án/381 bị can tại Hưng Yên, chỉ rõ những kết quả đạt được và các hạn chế cần khắc phục trong việc kiểm sát tố giác tin báo tội phạm.
- Nhận diện chính xác nguyên nhân dẫn đến 21 lượt trả hồ sơ để điều tra bổ sung, bắt nguồn từ tính chất định tính của khái niệm hậu quả nghiêm trọng và kỹ năng kiểm sát hiện trường.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về nghiệp vụ, xây dựng thể chế và đào tạo cán bộ kiểm sát, hướng tới mục tiêu kiểm soát 100% hồ sơ vụ án đúng quy chuẩn tố tụng đến năm 2020.
- Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu, đào tạo tư pháp và hoạt động nghiệp vụ điều tra - kiểm sát trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp hiện nay.