Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái quát về Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bảo đảm Quyền con ngƣời luôn là một nội dung chính và cũng là mục đích để xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta. Để đảm bảo thƣ̣c hiê ̣n Quyề n con ngƣời, các bản Hiến pháp của nƣớc ta với vai trò là một đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc , đã có nhiề u quy đinh ̣ khẳ ng đinh ̣ Quyề n con ngƣời , quyề n công dân và mô ̣t trong nhƣ̃ng quyề n đƣơ ̣c Hiế n pháp nƣớc ta bảo vê ̣ đó chính là Quyề n bào chữa trong các vụ án hình sự. Để nhìn nhận tổng quan đƣợc Quyền bào chữa là gì và cơ sở cho việc phải bảo đảm Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự thì trƣớc hế t, cầ n nhiǹ nhâ ̣n đúng thế nào là Quyề n bào chƣ̃a và làm rõ đƣơ ̣c nhƣ̃ng đă ̣c điể m của Quyề n bào chƣ̃a.
Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự Hiê ̣n nay có nhiề u quan điể m khác nhau về Quyề n bào chƣ̃a bởi vì đây là mô ̣t chế đinh ̣ quan tro ̣ng , phƣ́c ta ̣p, nó vừa mang tính lý luận và vừa mang tính thực tế. Tƣ̀ trƣớc đế n nay có nhiề u bài nghiên cƣ́u đã đƣa ra nhiề u quan điể m về cách hiể u thế nào là Quyề n bào chƣ̃a nhƣng nhin ̀ chung có thể nêu ra mô ̣t số các quan điể m nhìn nhâ ̣n sau: Quan điể m thƣ́ nhấ t [20, tr.14] cho rằ ng Quyề n bào chữa là tổ ng hòa tất cả các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có lỗi hoặc nhằ m làm giảm trách nhiê ̣m của Bi ̣ can. Quan điể m thƣ́ hai [28, tr.18] cho rằ ng, Quyề n bào chữa được hiể u rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở viê ̣c bác bỏ sự buộc tội và xác đi ̣nh Bi ̣ can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của Bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của Bị c an kể cả khi chúng không trực tiế p liên quan đế n viê ̣c làm giảm trách nhiê ̣m của Bi ̣ can trong vụ án. Quan điể m thƣ́ ba [40, tr.12] cho rằ ng, Quyề n bào chữa không chỉ thuộc về 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bị can, Bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bi ̣ kế t án , người bào chữa, bị đơn dân sự và Người đại diện hợp pháp của họ.
Quan điể m thƣ́ tƣ [31, tr.53] cho rằ ng , Quyề n bào chữa trong BLTTHS là tổ ng hòa các hành vi tố tụng do Người bi ̣ tạm giữ , Bị can, Bị cáo, người bi ̣ kế t án thực hiê ̣n trên cơ sở phù hợp với quy đi ̣nh của pháp luật nhằ m phủ nhận một phầ n hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan tiế n hành tố tụng , làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự. Quan điể m thƣ́ năm [47, tr.107] cho rằ ng không chỉ Bi ̣ cáo mà cả bi ̣ hại cũng cầ n đế n viê ̣c bào chữa. Ngoài ra nhân chứng , người giám đi ̣nh viên và cả những người khác cũng có thể có Người bào chữa nế u như quyề n lợi của họ bi ̣ xâm phạm. Các quan điể m khác nhau về Ngƣời bào chƣ̃a nói trên ít nhi ều đã tiếp cận về Quyền bào chữa ở các góc độ khác nhau nhƣng chƣa chin ́ h xác thể hiê ̣n ở chủ thể của Quyền bào chữa.
Theo Điề u 11 BLTTHS 2003 có quy định: “Người bi ̣ tạm giữ , Bị can , Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa ”. Nhƣ vâ ̣y , pháp luật đã quy định chủ thể có Quyền bào chữa chính là Ngƣời bị tạm giữ , Bị can và Bị cáo. Các quan đi ểm nhƣ đã nêu trên có nội hàm rất hẹp , đã ha ̣n chế các chủ thể có thể có Quyề n bào chƣ̃a nhƣ quan điể m mô ̣t và hai hoă ̣c đã mở rô ̣ng không cầ n thiế t các chủ thể có Quyề n bào chƣ̃a nhƣ ba quan điể m còn la ̣i. Về mă ̣t lý luâ ̣n , để nhận định chủ thể của Quyền bào chữa thì cần xét đ ến mu ̣c đích của Quyề n bào chƣ̃a là gì để có thể đánh giá và đƣa ra đƣơ ̣c các chủ thể chin ́ h xác.
Theo mô ̣t cách hiể u chung nhấ t thì Quyề n bào chƣ̃a là tổ ng thể cá c quyề n mà pháp luật quy định cho chủ thể của quyền này đƣợc trình bày các ý kiến , quan điể m của mình đối với việc buộc tội , đƣơ ̣c đƣa ra nhƣ̃ng chƣ́ng cƣ́ cầ n thiế t để đề nghi ̣ các Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét bác b ỏ toàn bộ hoặc một phần đối với việc buô ̣c tô ̣i hoă ̣c giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m cho ho ̣. Hay nói cách khác , Quyề n bào chƣ̃a hiể u theo đúng nghiã của tƣ̀ này là quyề n của mô ̣t ngƣời đƣơ ̣c đƣa ra các chƣ́ng cƣ́ để chứng minh cho sự vô tô ̣i (lỗi) hoă ̣c giảm nhe ̣ tô ̣i (lỗi của min ̀ h ) [20]. Nhƣ vâ ̣y, nhƣ̃ng chủ thể nào liên quan trƣ̣c tiế p đ ến viê ̣c buô ̣c tô ̣i và cầ n phải phản bác la ̣i 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viê ̣c buô ̣c tô ̣i đó hoă ̣c để giảm nhe ̣ các trách nhiê ̣m hình sƣ̣ do viê ̣c buô ̣c tô ̣ i gây ra thì mới có thể trở thành chủ thể của Quyền bào chữa. Tóm lại, Quyền bào chữa của Người bi ̣tạm giữ , Bị can, Bị cáo là tổng hợp tấ t cả các hành vi / phương thức mà pháp luật quy đ ịnh cho Người bi ̣ tạm giữ , Bị can, Bị cáo sử dụng trong các giai đo ạn của quá trình TTHS để chố ng lại sự buộc tội hoă ̣c làm giảm trách nhiê ̣m hình sự cho họ.
Với khái niê ̣m Quyề n bào chƣ̃a nhƣ trên , chúng ta có thể rút ra đƣợc một số đă ̣c điể m của Quyề n bào chƣ̃a nhƣ sau: a) Chủ thể của Quyền bào chữa: Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là cá nhân cho nên chủ thể của Quyền bào chữa cũng là cá nhân và đƣợc quy định tại Điề u 11 BLTTHS quy đinh: ̣ “Điều 11: Bảo đảm Quy ền bào chữa của Người bị tạm giữ , Bị can , Bị cáo: Người bi ̣ tạm giữ , Bị can , Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặ c nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điề u tra , Viê ̣n kiể m sát , Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho Người bi ̣ tạm giữ , Bị can , Bị cáo thực hiện Quyền bào chữa của họ theo quy đi ̣nh của Bộ luật này”. Theo quy đinh ̣ của BLTTHS cũng nhƣ tác giả đã đề câ ̣p ở trên thì chủ thể chính của Quyền bào chữa này chỉ có thể là Ngƣời bị tạm giữ , Bị can, Bị cáo. Các Cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng khi thƣ̣c hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng trong suố t quá trình giải quyết vụ án phải có nghĩa vụ đảm bảo Quyền bào chữa này cho Ngƣời bị tạm giƣ̃, Bị can, Bị cáo.
Quy đinh ̣ tr ên của BLTTHS 2003 so với BLTTHS 1988 quy định về Ngƣời bào chữa thì BLTTHS 2003 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm việc xét xử dân chủ, khách quan, công bằng hơn theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị. Theo Điề u 12 của BLTTHS năm 1988 có quy định chủ thể của Quyề n bào chƣ̃a chỉ có Bi ̣can , Bị cáo. Với viê ̣c mở rô ̣ng chủ thể của quyề n này theo nhƣ quy định tại Điều 11 BLTTHS 2003 là một sự tiến bộ của pháp luật vì Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ tron g giai đoa ̣n này là đang chiụ sƣ̣ giám sát để điề u tra hay nói 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách khác họ là những ngƣời đang bị tình nghi về một hành vi phạm tội đã đƣợc thƣ̣c hiê ̣n. Về viê ̣c mở rô ̣ng chủ thể của ngƣời có Quyề n bào chƣ̃a theo tác giả có hai vấ n đề lý luâ ̣n chính cầ n lƣu ý : (i) Thƣ́ nhấ t , theo quy đinh ̣ ta ̣i khoản 1 Điề u 58 BLTTHS có quy đinh ̣ về quyề n và nghiã vu ̣ của ngƣời bào chƣ̃a , theo đó , Ngƣời bào chữa có thể tham gia bào chữa cho khách hàng (hoặc thân chủ) của mình kể từ giai đoa ̣n có quyế t đinh ̣ ta ̣m giƣ̃ nế u khách hàng (hoặc thân chủ) của Ngƣời bào chƣ̃a bi ̣bắ t theo quy đinh ̣ ta ̣i Điề u 81, Điề u 82 của BLTTHS 2003.
Nhƣ vâ ̣y ngay tƣ̀ khi có quyế t đinh ̣ ta ̣m giƣ̃ , Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ đã đƣơ ̣c đă ̣t dƣới sƣ̣ kiể m tra và giám sát của các Cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ cho việc điều tra , truy tố tô ̣i pha ̣m và do vậy họ vẫn phải đƣợc bảo đảm về Quyền bào chữa của mình tƣơng tự nhƣ đối với Bi ̣can, Bị cáo.; (ii) Thƣ́ hai là xuấ t phát tƣ̀ mô ̣t nguyên tắ c chính của TTHS đó chính là nguyên tắc suy đoán vô tội đƣợc quy định tại Điều 9 BLTTHS khi mà không ai bi ̣coi là có tô ̣i và phải chiụ hin ̀ h pha ̣t khi chƣa có bản án kế t tô ̣i của Tòa án đã có hiê ̣u lƣ̣c pháp luâ ̣t và do vâ ̣y Ngƣời bi ̣ta ̣m giƣ̃ vẫn sẽ đƣơ ̣c hƣởng Quyề n bào chƣ̃a giố ng nhƣ Bi ̣can, Bị cáo.