Thực Hành Quyền Công Tố và Kiểm Sát Điều Tra Đối Với Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chất Chiếm Đoạt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2015

100
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT

1.1. Nhận thức chung về điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.2. Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.3. Điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.4. Khái quát về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.5. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

1.6. Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.7. Đặc điểm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY

2.1. Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy từ năm 2010 đến năm 2014

2.2. Vài nét về tình hình, đặc điểm quận Cầu Giấy

2.3. Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy từ năm 2010 đến năm 2014

2.4. Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

2.5. Bộ máy tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

2.6. Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

3. CHƯƠNG 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIẾM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY

3.1. Dự báo các tình hình có liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

3.2. Xu hướng của tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới

3.3. Những yếu tố khác tác động đến hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

3.5. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

3.6. Cần sớm kiện toàn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và hoàn thiện đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014

3.7. Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân định trách nhiệm trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

3.8. Tăng cường mối quan hệ phối hợp trên cơ sở pháp luật tố tụng hình sự giữa Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy với cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

3.9. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy nói chung và đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thực Hành Quyền Công Tố Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân. Việc đảm bảo thực hiện chức năng này là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp. Ngành Kiểm sát nhân dân đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và các quyền dân chủ của công dân. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn quận nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Tuy nhiên, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu còn nhiều tồn tại, hạn chế.

1.1. Vai trò của Viện Kiểm Sát trong tố tụng hình sự

Viện kiểm sát nhân dân đóng vai trò then chốt trong hệ thống tố tụng hình sự, đảm bảo tính hợp pháp và khách quan của quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Chức năng thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra giúp ngăn ngừa oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo tài liệu gốc, Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát khởi tố, điều tra các vụ án, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

1.2. Tầm quan trọng của kiểm sát điều tra tội xâm phạm sở hữu

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội và quyền lợi của người dân. Việc kiểm sát chặt chẽ quá trình điều tra các tội phạm này giúp đảm bảo tính minh bạch, khách quan, tránh tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, nhầm lẫn trong việc định tội danh. Cần có sự thống nhất trong nhận thức của Kiểm sát viên về các quy định của pháp luật.

II. Nhận Diện Đặc Điểm Pháp Lý Tội Xâm Phạm Sở Hữu Chiếm Đoạt

Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, cần nắm vững các đặc điểm pháp lý đặc trưng của các tội này. Các đặc điểm này được xác định dựa trên bốn yếu tố cấu thành tội phạm và khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Cần phân biệt rõ các yếu tố cấu thành tội phạm để tránh sai sót trong quá trình điều tra và truy tố.

2.1. Khách thể và đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Các tội từ Điều 133 đến Điều 136 BLHS có khách thể không chỉ là quan hệ sở hữu mà còn là quyền nhân thân. Đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm Hành vi và hậu quả

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi đó gây ra. Các hành vi chiếm đoạt tài sản có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa dối, lợi dụng tín nhiệm... Hậu quả của hành vi phạm tội là gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm Lỗi và mục đích

Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện qua lỗi của người phạm tội và mục đích phạm tội. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản để tư lợi.

III. Thực Trạng Công Tố và Kiểm Sát Điều Tra Tại Quận Cầu Giấy

Viện kiểm sát nhân dân (KSND) quận Cầu Giấy đã kiểm sát khởi tố, điều tra nhiều vụ án. Tuy nhiên, hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn nhiều tồn tại, hạn chế như việc thu thập chứng cứ trong hồ sơ không đầy đủ, hình sự hoá các quan hệ dân sự, nhầm lẫn trong việc định tội danh. Những tồn tại trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp do nhận thức của Kiểm sát viên làm công tác THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chưa đầy đủ và thống nhất, các quy định của pháp luật còn thiếu đồng bộ.

3.1. Số liệu thống kê về tội xâm phạm sở hữu tại Cầu Giấy

Theo số liệu thống kê từ năm 2010 đến năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) quận Cầu Giấy đã kiểm sát khởi tố, điều tra nhiều vụ án, trong đó các tội xâm phạm sở hữu (XPSH) có tính chất chiếm đoạt chiếm tỷ lệ đáng kể. Cần phân tích chi tiết các số liệu này để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp.

3.2. Đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát

Cần đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Việc đánh giá cần dựa trên các tiêu chí cụ thể như tỷ lệ truy tố đúng tội danh, tỷ lệ giải quyết án, tỷ lệ kháng nghị, khiếu nại được chấp nhận...

3.3. Những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện

Quá trình thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại quận Cầu Giấy còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Các khó khăn này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như quy định của pháp luật chưa rõ ràng, năng lực của cán bộ còn hạn chế, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ...

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tố Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, cần có các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và đầu tư cơ sở vật chất.

4.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về tội xâm phạm sở hữu

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt để đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Cần có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các quy định này để tránh tình trạng hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất.

4.2. Nâng cao năng lực cho Kiểm sát viên và Điều tra viên

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Kiểm sát viênĐiều tra viên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Cần chú trọng đào tạo về kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ, kỹ năng hỏi cung, kỹ năng tranh tụng...

4.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng

Cần tăng cường sự phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Tòa án và các cơ quan chức năng khác trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Cần có quy chế phối hợp cụ thể để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong công tác.

V. Dự Báo Tình Hình Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Quận Cầu Giấy

Dự báo tình hình liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Xu hướng của tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới. Những yếu tố khác tác động đến hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới.

5.1. Xu hướng gia tăng tội phạm xâm phạm sở hữu công nghệ cao

Với sự phát triển của công nghệ, dự báo tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt sẽ có xu hướng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Các đối tượng phạm tội sẽ sử dụng các phương thức, thủ đoạn tinh vi hơn, lợi dụng các kẽ hở của pháp luật và sự thiếu hiểu biết của người dân để thực hiện hành vi phạm tội.

5.2. Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế xã hội đến tội phạm

Các yếu tố kinh tế - xã hội như tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng... có thể tác động đến tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Cần có các giải pháp kinh tế - xã hội phù hợp để giảm thiểu các yếu tố này.

VI. Kết Luận Hoàn Thiện Thực Hành Quyền Công Tố Hiện Nay

Việc nghiên cứu và hoàn thiện thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong hoạt động THQCT và KSĐT của của Viện KSND quận Cầu Giấy đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, từ đó có thế tổng kết kinh nghiệm cho toàn ngành.

6.1. Tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn Cầu Giấy

Cần tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ thực tiễn thực hành quyền công tốkiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại quận Cầu Giấy để rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Các bài học này có thể được áp dụng cho các địa phương khác có điều kiện tương đồng.

6.2. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nghiệp vụ

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nghiệp vụ liên quan đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Các kiến nghị này cần được trình lên các cơ quan có thẩm quyền để xem xét, quyết định.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận cầu giấy thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1. Nhận thức chung về điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1. Khái niệm Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội giữa người và người trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội.

Nó ra đời cùng với các hoạt động kinh tế và được luật hóa thành “quyền sở hữu” khi xuất hiện nhà nước và pháp luật. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Các tội xâm phạm sở hữu (XPSH) là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [38, tr.

Các tội này được quy định tại Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự), gồm 13 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 145. Đó là các tội: tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135), tội cướp giật tài sản (Điều 136), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), tội trộm cắp tài sản (Điều 138), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141), tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142), tội hủy hoại 7 z hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145). Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm: (1) các tội có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 133 đến Điều 142 BLHS) và (2) nhóm các tội không có mục đích tư lợi (từ Điều 143 đến Điều 145 BLHS). Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào đặc điểm chung của hành vi phạm tội có thể chia thành nhóm có tính chất chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140) và nhóm không có tính chất chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142).

Vậy tính chất chiếm đoạt ở đây được hiểu như thế nào? Có ý kiến cho rằng “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [38, tr. Quan điểm này thể hiện được bản chất của khái niệm chiếm đoạt nhưng đã đồng nhất dấu hiệu chiếm đoạt với hành vi chiếm đoạt. Trong khi đó, theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là “chiếm của người làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế”[21, tr. Như vậy, khái niệm chiếm đoạt cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội.

Từ đó, chúng tôi cho rằng khái niệm chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt cần được hiểu như sau: “chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình. Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội”. Trên cơ sở khái niệm các tội XPSH và khái niệm chiếm đoạt ở trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội XPSH có tính chiếm đoạt như sau: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi cố ý chiếm lấy, đoạt lấy tài sản đang do người khác sở hữu hợp pháp làm tài sản của mình vì mục đích vụ lợi. Đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Để nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, trước hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý đặc trưng của các tội này (dựa vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm và khái niệm các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt) như sau: - Khách thể của tội phạm Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [37, tr.

Nghiên cứu quy định của BLHS đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 140 và thực tiễn áp dụng, các tội từ Điều 133 đến Điều 136 BLHS có khách thể không chỉ là quan hệ sở hữu mà còn là quyền nhân thân. Còn đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu. Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp và bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự).

- Mặt khách quan của tội phạm. Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [37, tr. Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện là hành động và không hành động. Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có những hành vi khách quan khác nhau.

Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm 9 z chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai như tội Cướp giật tài sản. Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức, đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau và chúng là dấu hiệu phân biệt các tội phạm có cùng hành vi chiếm đoạt với nhau. Cụ thể, trong nhóm 1, đối với tội Cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực “ngay tức khắc” đối với chủ tài sản; đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi đe dọa dùng vũ lực lại nhằm vào con tin từ đó khiến người thân của con tin (người có tài sản) phải lo sợ, giao nộp tài sản; hoặc cùng là đe dọa dùng vũ lực đối với chủ tài sản nhưng ở tội Cưỡng đoạt tài sản không có đặc điểm “ngay tức khắc” như tội Cướp tài sản. Đối với nhóm 2, người phạm tội Trộm cắp tài sản có thủ đoạn lén lút khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn ở tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội lại có hành vi công khai.

Ở nhóm 3,tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân biệt với nhau bởi thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hay sau khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện. Về hậu quả mà những hành vi nói trên gây ra trước hết là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể là tài sản bị mất. Đối với những tội như Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại về thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần). - Chủ thể của tội phạm Chủ thể của nhóm tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định: từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu 10 z trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc những tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3, và 4 của các Điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các Điều 137, 138, 139, 140.

Ngoài ra tại các Điều 139, 140 Bộ luật hình sự, dấu hiệu chủ thể đặc biệt được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể ở điểm d khoản 2 Điều 139: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản; điểm b khoản 2 Điều 140: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. - Mặt chủ quan của tội phạm: Tất cả các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lí nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình. Về động cơ và mục đích phạm tội: người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác và dấu hiệu chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội này.

Tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt là khác nhau. Chúng có thể là hành vi chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt được. Ví dụ: Đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 135 BLHS, khách thể được bảo vệ bao gồm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân.

Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành và dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội. Vì vậy, mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thực Hành Quyền Công Tố và Kiểm Sát Điều Tra Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Quận Cầu Giấy" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các quy định pháp lý mà còn phân tích thực tiễn áp dụng tại Quận Cầu Giấy, giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của cơ quan công tố trong việc bảo vệ quyền sở hữu và xử lý các vụ án liên quan.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện thanh miện tỉnh hải dương", nơi cung cấp cái nhìn về quy trình xét xử hình sự. Bên cạnh đó, tài liệu "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình xét xử hình sự tại Việt Nam. Cuối cùng, tài liệu "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam" sẽ cung cấp thông tin chi tiết về giai đoạn khởi tố, một phần quan trọng trong quy trình điều tra tội phạm.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt kiến thức chuyên sâu mà còn mở ra nhiều khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực quyền công tố và kiểm sát điều tra.