Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố Theo khoa học luật tố tụng hình sự, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức góp phần giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong đó, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự, bắt đầu khi cơ quan chức năng tiếp nhận nguồn tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.
Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, khi Luận văn thạc sĩ Luật học cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử. Hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra góp phần quan trong thực hiện mục tiêu phát hiện chính xác, kịp thời mọi hành vi phạm tội và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Giai đoạn điều tra là giai đoạn có thời gian dài nhất trong các giai đoạn tố tụng, do tầm quan trọng cũng như tính phức tạp của nó nhằm bảo đảm cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ của vụ án. Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thực hành đầy đủ và đúng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hạn chế trả hồ sơ để điều tra bổ sung, bảo đảm cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội. Để có nhận thức đầy đủ về khái niệm “Thực hành quyền công tố”, trước hết cần làm rõ khái niệm “Quyền công tố”. Điều đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan có chức năng thực hành quyền công 8 tố là Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp nói riêng. Nhiều năm qua, trong giới nghiên cứu pháp lý có các quan điểm khác nhau về quyền công tố.
Quan điểm thứ nhất cho rằng:“Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa sơ thẩm” [31, tr. Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát và quyền này chỉ được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự và phạm vi của nó cũng chỉ có ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Quan điểm thứ hai đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân, cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố [51, tr. Quan điểm này không phân biệt quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Theo Hiến pháp năm 2013 thì Viện kiểm sát có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong quá trình thực hiện, dù hai chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ, đan xen, tác động qua lại Luận văn thạc sĩ Luật học nhưng không thể đồng nhất chúng, phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng. Bởi lẽ đó, không thể đồng nhất hai chức năng này của Viện kiểm sát với nhau. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [46, tr. Từ những quan điểm trên đây và trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể coi quyền công tố là quyền lực công, là bộ phận không thể tách rời của quyền lực Nhà nước, được Nhà nước giao cho cơ quan thực hành quyền công tố sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân phạm tội.
Quyền công tố chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, gắn liền với chức năng buộc 9 tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền công tố xuất hiện từ khi có hành vi phạm tội xảy ra, được thể hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân bị nghi là phạm tội và tiến hành buộc tội trước Tòa án. Quyền công tố độc lập với quyền tài phán của Tòa án, quyền công tố chấm dứt khi vụ án được xét xử có bản án có hiệu lực hoặc vụ án được đình chỉ. Từ những nhận thức trên, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Quyền công tố là quyền lực Nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người, pháp nhân phạm tội ra trước tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.
Do có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố nên dẫn đến các quan điểm khác nhau về thực hành quyền công tố. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong Luận văn thạc sĩ Luật học các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [46, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các biện pháp do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật” [30, tr. Quan điểm chính thức về quyền công tố được thể hiện tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
Từ những phân tích nêu trên, thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra có thể được hiểu là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người, pháp nhân phạm tội 10 được thực hiện ngay từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Đối tượng phạm tội được quy định trong luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành là người và pháp nhân phạm tội, người dưới 18 tuổi phạm tội là một bộ phận trong đối tượng người phạm tội. Do đó, thực hành quyền công tố đối với chủ thể phạm tội là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn khởi tố, điều vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong suốt quá trình này. Phạm vi, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1.
Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra để có cái nhìn toàn diện thì không thể bỏ qua việc tìm hiểu về phạm vi và nội dung Luận văn thạc sĩ Luật học của nó. Phạm vi thực hành quyền công tố là vấn đề gây nhiều bàn luận trong giới nghiên cứu, có quan điểm cho rằng, “Phạm vi thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự” [13, tr. Quan điểm này xuất phát từ việc cho rằng, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát cũng thuộc giai đoạn điều tra, không phải là giai đoạn độc lập. Để khẳng định chính xác phạm vi thực hành quyền công tố cần phải xem xét đến phạm vi của quyền công tố cũng như mối quan hệ giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố.
Như đã trình bày ở trên, khi tội phạm xảy ra được cơ quan chức năng tiếp nhận và tiến hành thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thì xuất hiện quyền công tố, các hoạt động phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, hủy bỏ quyết định tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc thay đổi, hủy bỏ quyết định khởi tố hình sự… là hoạt động thực hành quyền công tố.