Chương 1 Tổng quan về xuất khẩu nông sản và những yêu cầu của thị trường nhật bản đối với nông sản xuất khẩu của Việt nam 1.1 Tổng quan về xuất khẩu nông sản của việt nam 1.1 Khái niệm và các hình thức xuất khẩu 1.1 Khái niệm Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Theo quan niệm của luật thương mại được quốc hội thông qua thì xuất khẩu là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực Hải quan riêng theo qui định của pháp luật. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Song hoạt động này có những nét riêng, phức tạp hơn trong nước như giao dịch với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn, khó kiểm soát, hoạt động mua bán được thực hiện qua nhiều khâu trung gian, đồng tiền thanh toán thường là ngoại tệ mạnh và hàng hóa phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia khác nhau nên phải tuân thủ theo các tập quán quốc tế cũng như luật lệ của từng địa phương khác nhau. Xuất khẩu là một trong những yếu tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt nam. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, xuất khẩu là cơ sở thúc đẩy và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ CNH-HĐH đất nước.2 Các hình thức xuất khẩu Theo luật Thương mại sửa đổi được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua năm 2005 đã đưa ra nhiều hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, tuy nhiên đề tài chỉ đề cập đến một số hình thức xuất khẩu chủ yếu sau đây: Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức xuất khẩu các hàng hóa hoặc dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất khác trong nước tới các khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Đặc điểm của phương thức giao dịch này là các bên trực tiếp giao dịch với nhau trên danh nghĩa của mình thông qua gặp mặt trực tiếp, qua thư từ, điện tín, Internet…ưu điểm của loại hình này là hiệu quả kinh tế cao, bí mật, nhanh chóng, giữ được khách hàng. Nhược điểm của nó là chi phí khá tốn kém, đi lại nhiều, đòi hỏi các bên có trình độ chuyên môn cao. Xuất khẩu ủy thác (Xuất khẩu qua trung gian): Là hoạt động thương mại mà theo đó bên nhận xuất khẩu ủy thác thực hiện việc xuất khẩu hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác. Ưu điểm của phương pháp này là tận dụng được mối quan hệ, trình độ, nghiệp vụ của bên ủy thác.
Tuy nhiên doanh nghiệp ủy thác lại bị phụ thuộc lớn vào các nhà trung gian, mất chi phí ủy thác tương đối lớn. Buôn bán đối lưu: Đây là phương thức giao dịch, trao đổi hàng hóa trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu. Người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa giao đi tương ứng với lượng hàng hóa nhập lại về giá trị. Mục đích của xuất khẩu không phải để thu một khoản ngoại tệ mà nhằm thu vệ một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với giá trị lô hàng đã xuất.
Điểm chú ý trong hình thức giao dịch này là không chỉ cân bằng giá trị hàng hóa trao đổi mà còn cân bằng mặt hàng, cân bằng về giá cả và điều kiện giao hàng. Buôn bán đối lưu gồm: nghiệp vụ hàng đổi hàng, nghiệp vụ bù trừ, nghiệp vụ mua đối lưu, nghiệp vụ mua bán thanh toán bình hành, nghiệp vụ bán đối lưu, nghiệp vụ chuyển nợ, nghiệp vụ giao dịch bồi hoàn… 6 Tái xuất : Tái xuất là xuất khẩu trở lại những hàng hóa mà trước đây đã nhập khẩu và chưa qua chế biến. Mục đích của phương thức này là thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn lượng ngoại tệ ban đầu bỏ ra. ở nước ta, quan điểm tái xuất bao gồm loại hình tái xuất theo đúng nghĩa của nó, có nghĩa là hàng hóa thực sự được nhập khẩu về nước và sau đó được xuất khẩu sang nước thứ ba và trường hợp hàng hóa đi thẳng đến nước nhập khẩu cuối cùng mà không được làm thủ tục nhập khẩu vào nước ta (chuyển khẩu).
Gia công xuất khẩu: Gia công xuất khẩu là một hình thức kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại bên đặt gia công và nhận thù lao (phí gia công). Như vậy trong hoạt động gia công, hoạt động xuất khẩu luôn gắn với hoạt động sản xuất. Hoạt động gia công ngày nay được phát triển mạnh mẽ vì nó đã phát huy lợi thế tối đa của các bên đó là công nghệ hiện đại, phương thức sản xuất, quản lý tiên tiến và lao động, nguyên liệu rẻ.2 Khái niệm chung về nông sản và xuất khẩu nông sản Theo Từ điển tiếng việt của Trung tâm KHXH và NV Quốc gia (NXB Văn hóa Sài Gòn) thì “nông sản” là sản phẩm do ngành nông nghiệp sản xuất ra như gạo, rau, quả, cà phê, cao su…; "hàng hóa” là thứ sản phẩm do lao động làm ra để bán trên thị trường, vì vậy khi nông sản sản xuất ra để đưa ra bán trên thị trường thì được gọi là “hàng hóa nông sản”, mặt khác nông sản sản xuất ra bao gồm rất nhiều loại khác nhau không chỉ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất mà còn được bán ra thị trường để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội thì được gọi là nông sản hàng hóa. Như vậy “hàng hóa nông sản” và “nông sản hàng hóa” đồng nhất về khái niệm vì chúng có cùng chung một bản chất là nông sản sản xuất ra được bán trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Thị trường ở đây bao gồm thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, nông sản sản xuất ra để bán ra thị trường ngoài nước thì được gọi là “xuất khẩu nông sản”. 7 Do vậy theo khái niệm hàng nông sản như trên thì bao gồm rất nhiều chủng loại và mặt hàng khác nhau. Theo phân loại của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, hàng hóa nông sản được hiểu theo nghĩa rộng bao trùm cả ngành sản xuất khu vực I (sản xuất nông lâm thủy sản) bao gồm 19 chủng loại. Tuy nhiên trong đề tài chỉ tập trung ỏ một số loại hàng nông sản thuần thúy (không bao gồm thủy sản, lâm sản) được sử dụng để xuất khẩu sang Nhật Bản mang đặc điểm như sau: Mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm lớn khoảng 100 triệu USD/năm trở lên.
Mặt hàng có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng và cả nước nói chung Mặt hàng có lợi thế cạnh tranh trên thị trường trường quốc tế nói chung và trên thị trường Nhật Bản nói riêng. Mặt hàng có vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nhiệp chế biến. Mặt hàng xuất khẩu sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu trong nước Theo nghĩa đó, “nông sản xuất khẩu” sang Nhật Bản (hay “xuất khẩu nông sản") thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu đề cập đến chỉ bao gồm các mặt hàng là Ca su, cà phê và rau quả 1.3 Đặc điểm sản xuất và xuất khẩu nông sản 1.1 Tính chất của hàng hóa nông sản Hàng hóa nông sản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như: Khí hậu, vị trí địa lý, đất đai, nguồn nước…Do là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên các sản phẩm nông sản mang tính đặc trưng của từng khu vực địa lý, vùng khí hậu khác nhau. Ví dụ như các khu vực trung du, đồng bằng có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới nóng ẩm phù hợp với sản xuất Gạo, Cà phê, rau quả.Vùng đất Bazan nơi có độ ẩm trung bình phù hợp với trông cây công nghiệp như Cao su, điều, tiêu…Đối với cây điều, quế, hồi lại đặc biệt thích hợp với vùng có khí hậu ôn đới, có lượng mưa thấp… Hầu hết hàng hóa nông sản mang tính thời vụ, tùy thuộc vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch khác nhau, do đó thị trường các mặt hàng nông sản này biến động và thay đổi lớn tùy thuộc vào thời điểm và sản lượng thu hoạch.
Đa số các mặt hàng nông sản khó bảo quản, dễ bị các nhân tố môi trường tác động làm biến dạng và biến chất trong 8 thời gian bảo quản và vận chuyển. Do vậy, các nhà xuất khẩu nông sản phải xây dựng hệ thống các kho tồn trữ, chế biến hàng nông sản nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng và tiến độ giao hàng. Đồng thời lượng tồn kho dự trữ đối với các mặt hàng nông sản đóng vai trò khá quan trọng trên thị trường và là một phương thức được nhiều nước cũng như các doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh. Hàng hóa nông sản thuộc các nhóm hàng lương thực, thực phẩm dùng cho con người nên yêu cầu chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đặc biệt coi trọng và được quy định chặt chẽ trong quá trình sản xuất, chế biến, đóng gói, vận chuyền và sử dụng.
Hàng hóa nông sản bao gồm nhiều chủng loại. Mỗi loại hàng hóa đó có tính chất và đặc điểm khác nhau, được thu hoạch và thu mua từ nhiều nguồn, nhiều vùng, từ nhiều giống cây trồng khác nhau, nên trên thị trường xuất khẩu hàng nông sản được phân loại thành các loại sản phẩm khác nhau theo nhiều tiêu thức khác nhau trở thành thông lệ quốc tế. Ví dụ căn cứ vào giống cây trồng thì cà phê thông thường được chia thành hai loại là cà phê Robusta và Arabica, mặt hàng hạt tiêu được chia thành tiêu trắng, tiêu đen. Mặt hàng chè gồm chè xanh, chè đen, chè Konya hoặc chè Bănglades, chè Indonexia (căn cứ vào nước sản xuất).
Căn cứ vào tỷ lệ hạt vỡ thì mặt hàng gạo chia thành gạo 5%, 10%, 15% hoặc 25% tấm.