đặt vấn đề có tồn tại một tiềm năng phát triển đối với mỗi sản phẩm trên thị trường thế giới không? Câu trả lời phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp và khả năng nắm bắt cơ hội. Trên thực tế, vấn đề quan trọng của chính sách sản phẩm là lựa chọn giữa tiêu chuẩn hóa hay thích nghi hóa. Phân tích và nghiên cứu những yếu tố trên sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng được một chính sách sản phẩm với danh mục, chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng…phù hợp với các khu vực thị trường, các quốc gia mà doanh nghiệp lựa chọn thâm nhập. Chính sách giá sản phẩm Để có được một chính sách giá quốc tế đúng đắn, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và phân tích các yếu tố cơ bản tác động đến giá chẳng hạn như: chi phí, cầu thị trường, thu nhập, nhân tố cạnh tranh, những quy định về pháp luật và các chính sách của các nước nhập khẩu, mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải dưa ra các quyết định về giá ban đầu cho các đối tượng khách hàng khác nhau, các quyết định về thay đổi mức giá hiện tại, các quyết định về giá cho các chủng loại sản phẩm, về hình thức và mức độ kiểm soát về giá trên các thị trường nước ngoài khác nhau và về mức độ khác biệt giữa giá nội địa và giá xuất khẩu. Nghiên cứu và phân tích những nhân tố trên sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng được một chính sách giá phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp thâm nhập. Chính sách phân phối Để đưa sản phẩm sang những khu vực thị trường, những cộng đồng và quốc gia khác, doanh nghiệp có thể xem xét và lựa chọn những phương thức sau: xuất 13 khẩu gián tiếp, xuất khẩu trực tiếp, nhượng bằng sáng chế, liên doanh và đầu tư trực tiếp. Mỗi một phương thức đều khác nhau về mức độ trách nhiệm, mức độ rủi ro và hiệu quả.
Để lựa chọn doanh nghiệp cần căn cứ vào các nhân tố: mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp trong việc phát triển hoạt động trên thị trường nước ngoài; mức độ rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể chấp nhận; yêu cầu và mong muốn kiểm soát việc tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài; kỳ vọng về lợi nhuận; đặc tính sản phẩm hàng hóa. Nghiên cứu và phân tích những yếu tố trên giúp cho doanh nghiệp lựa chọn cho mình kênh phân phối phù hợp và tối ưu nhất nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại thị trường mục tiêu. Tham gia vào các hiệp hội ngành nghề theo xu hướng “nhất thể hóa thuận” “Buôn có bạn, bán có phường” không chỉ đúng với mua bán trong nước mà còn đúng với cả mua bán quốc tế. Đặc biệt, trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, các doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều khó khăn thách thức trên thị trường quốc tế vì thế cần có một tổ chức xã hội nghề nghiệp để thể hiện quyền làm chủ của doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng và và quản lý của nhà nước.
Đây là nơi doanh nghiệp tự tổ chức, tự hoàn thiện, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là cầu nối giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhà nước và thị trường. Khi tham gia vào thị trường quốc tế, các doanh nghiệp non trẻ thường bị “lép vế” so với các đối thủ cạnh tranh, tình trạng bị ép giá, tẩy chay, gây khó dễ.Điều này thường xuyên xảy ra đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam. Vì thế các doanh nghiệp cần thiết phải tham gia vào các hiệp hội nhằm tạo nên sức mạnh tổng thể, giải quyết những vướng mắc, bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế. Các yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may 1.
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 1. Môi trường chính trị, luật pháp Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh quốc tế. Các yếu tố về chính trị có 14 mối quan hệ mật thiết với các yếu tố kinh tế vĩ mô. Các yếu tố này là nhân tố kích thích hoặc kiềm chế quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh.
Sự ổn định về chính trị là yếu tố quan trọng tạo nền tảng tâm lý vững chắc cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Ngược lại sự bất ổn định về chính trị sẽ kéo theo sự bất ổn về kinh tế - xã hội và tạo tâm lý không tốt cho các nhà kinh doanh. Bên cạnh môi trường chính trị thì môi trường luật pháp cũng là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Một hệ thống luật rõ ràng, đồng bộ nhất quán, một hành lang pháp lý thông thoáng phù hợp với thông lệ quốc tế là tiền đề thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế của các quốc gia.
Chính sách vĩ mô của nhà nước Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động trên thị trường quốc tế phải đặc biệt quan tâm đến các chính sách và các công cụ chủ yếu mà nhà nước sử dụng để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu bởi các công cụ và chính sách này tác động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, chúng ta đã xác định dệt may là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của quốc gia, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước nên chính phủ đã có những biện pháp, chính sách hỗ trợ để thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may nói chung và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may nói riêng. Đây là một trong những yếu tố rất thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may. Các yếu tố về văn hóa xã hội Các yếu tố về văn hóa xã hội hình thành nên các hình thức khác nhau của nhu cầu thị trường, là nền tảng cho sự xuất hiện của thị hiếu tiêu dùng, sự yêu thích trong tiêu dùng sản phẩm cũng như sự tăng trưởng của các công đoạn thị trường mới.
Đồng thời các xu hướng vận động của yếu tố văn hóa xã hội cũng thường xuyên phản ánh những tác động do các điều kiện về kinh tế và khoa học công nghệ mang lại. Vì vậy muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải có những hiểu biết nhất định về môi trường văn hóa - xã hội của các quốc gia, khu vực thị trường mà mình định xuất khẩu. Yếu tố về điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực Tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào là một trong những tiền đề để quốc gia đó tiến hành chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu đạt hiệu quả cao. Việt Nam là một quốc gia hội tụ được các yếu tố thuận lợi trên trong ngành sản xuất hàng dệt may, đặc biệt là nguồn nhân công dồi dào và tiền lương lao động rẻ.
Đây là lợi thế lớn nhất của Việt Nam góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam lại là quốc gia nằm trên trục hành lang quốc tế, hội tụ đủ cả ba đường giao thông quốc tế, đặc biệt là đường biển. Chính điều này đã tạo khả năng cho Việt Nam phát triển mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, trung chuyển, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hóa trong khu vực và thế giới. Yếu tố khoa học công nghệ Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, thời gian qua có nhiều công nghệ tiên tiến ra đời tạo cơ hội cũng như thách thức đối với tất cả các ngành sản xuất nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may nói riêng.
Nhìn chung, để đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào việc nghiên cứu tìm tòi các giải pháp kỹ thuật hay công nghệ mới trên thị trường. Nhờ áp dụng những công nghệ mới, các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật sẽ giúp các đơn vị sản xuất tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và giá thành có thể thấp hơn. Ngoài ra sự phát triển của khoa học công nghệ cũng có tác động gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu như: nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông mà các doanh nghiệp xuất khẩu có thể đàm phán với khách hàng qua điện thoại, Internet…do đó có thể giảm bớt chi phí trong đàm phán…Khoa học công nghệ tác động vào hoạt động xuất khẩu thông qua việc tác động vào các lĩnh vực như sản xuất, vận tải, viễn thông, ngân hàng…Trong khi đó, ngành dệt may nước ta lại có trình độ công nghệ thấp, ngành dệt mới chỉ đổi mới được từ 40 - 45%, trình độ tự động hóa ở mức trung bình, với ngành may thì đã đổi mới được 90 - 95% thiết bị, nhưng trình độ tự động hóa cũng chỉ ở mức độ trung bình, công nghệ lạc hậu so với các nước trong khu vực khoảng 5 năm. Đây là một trong những điểm yếu kém mà ngành dệt may cần phải nhanh chóng khắc phục để có thể chủ động hội nhập thành công và đứng vững trên thị trường quốc tế.
Các hiệp định liên quan đến hàng dệt may - Hiệp định dệt may trong khuôn khổ WTO: ATC là “hậu sách” của hiệp định đa sợi MFA của GATT kéo dài trên 20, ATC có hiệu lực trong vòng 10 năm, bắt đầu từ năm 1995 đến năm 2004. Đây là giai đoạn quá độ tiến tới tự do hóa buôn bán hàng dệt may theo những nguyên tắc cơ bản của WTO, các nước thành viên WTO sẽ dỡ bỏ dần hàng rào hạn ngạch, thực hiện thành 3 giai đoạn trong vòng 10 năm và dỡ bỏ hoàn toàn năm 2005. Lúc đó hàng dệt may Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội đồng thời cũng bị cạnh tranh gay gắt hơn. - Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là một thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam khi thâm nhập thị trường rộng lớn của Mỹ với mức nhập khẩu hàng năm lên tới cả trăm tỉ USD hàng dệt may.
Giờ đây thay vì phải chịu mức thuế nhập khẩu bình quân 45 - 90%, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ sẽ chỉ còn phải chịu mức thuế nhập khẩu bình quân là 5%. Điều này được xem như có cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu trong thời gian tới - Hiệp định dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ: Hiệp định có hiệu lực từ ngày 01/05/2003 đến ngày 31/12/2004.