Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DAY MANH XUAT KHẨU HÀNG DET MAY TRONG HỘI NHAP QUOC TE 1. Những van dé lý luận chung về xuất khẩu 1. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khâu là một phạm trù kinh tế phản ánh hoạt động trao đôi, bán hàng hóa của một quốc gia với phan còn lại của thế giới, hoặc có thé hiểu một các giản đơn: xuất khẩu là những hoạt động cụ thé trong trao đôi, bán hàng hóa của các chủ thé kinh tế trong nước với các đối tác nước ngoài.
[20, tr§] Khi sản xuất hàng hóa phát triển thì hoạt động trao đổi hàng hóa sẽ mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới một quốc gia và quá trình đó mang lại lợi ích cho các chủ thê tham gia. Xuất khẩu là hình thức xâm nhập nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất. Với các nước có trình độ kinh tế thấp như các nước Đang phát triển thì xuất khẩu đóng vai trò rat lớn đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khâu. Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu).
Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo băng tỷ lệ giữa giá trị nhập khâu và tông thu nhập quốc dân. Đối với những nén kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khâu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì thé, nhiều nước Dang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khâu. Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa.
Các hình thức xuất khẩu a. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khâu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của công ty cho các khách hang của mình ở nước ngoài. Hai hình thức chủ yếu mà công ty sử dụng dé thâm nhập thị trường quốc tế thông qua xuất khâu trực tiếp là: đại lý bán hàng, đại lý phân phối. - Đại ly bán hang: Là hình thức bán hang mà người bán không mang danh nghĩa của mình mà lấy danh nghĩa của người khác (người ủy thác) nhằm nhận lương và một số hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được.
Do đó họ không phải chịu trách nhiệm chính về mặt pháp lý. Nhưng trên thực tế, đại diện ban hang hoạt động như một nhân viên bán hàng của công ty của thị trường nước ngoài. Công ty đã ký với khách hàng tại thị trường nước đó. - Dai lý phân phối là người mua hàng hóa, dịch vụ của công ty dé bán theo kênh tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định.
Công ty khống chế phạm vi, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Còn đại lý phân phối sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Xuất khẩu gián tiếp Là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian. Các trung gian mua bán không chiếm hữu hàng hóa của công ty mà trợ giúp công ty xuất khâu hàng hóa sang thị trường nước ngoài.
Các trung gian xuất khẩu như: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công Gia công quốc tế là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia. Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tùy theo vai trò của bên đặt hàng và bên nhận gia công. Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài.
Nhưng khi trình độ phát triển ngảy càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình. Hoạt động gia công mang tinh chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thì rất ngăn, đầu vào va dau ra của nó gan liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương. Tái xuất khẩu Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào sau đó lại tiến hành xuất khâu qua một nước thứ ba. Như vậy ở đây có cả hoạt động mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao.
Xuất khẩu tại chỗ Trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt qua ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là viéc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế. Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bi đóng gói, chi phí bảo quản, chi phi vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại té. Xuất khẩu theo nghị định thư Xuất khâu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hóa theo chương trình đã được ký kết theo nghị định thư của hai chính phủ và thường là chương trình trả nợ giữa hai chính phủ.
Hình thức này đảm bảo khả năng thanh toán. Nội dung của hoạt động xuất khẩu 1. Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường bao gồm tắt cả các phương pháp nhằm đánh giá xem thị trường nước ngoài nào mang nhiều tiềm năng nhất cho sản phẩm của doanh nghiệp. Nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và tiền bạc.
Nhiều công ty hiện vẫn thực hiện hoạt động xuất khẩu theo phương thức “tự trang trải”, nghĩa là, bat đầu xuất khẩu sau đó sử dung lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm trên các thị trường này dé tiến hành dau tư lại. Điều này không thê áp dụng đối với nghiên cứu thị trường. Ở đây cần phải đầu tư một khoản tiền để nghiên cứu thị trường trước khi giới thiệu sản phẩm và điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tránh phải trả giá đắt cho những sai lầm trên thị trường mục tiêu sau này. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu Lựa chọn mặt hàng là khâu quan trọng trong nội dung hoạt động xuất khẩu.
Các doanh nghiệp cần định xem mình nên xuất khâu mặt hàng gì để phát huy hết những lợi thé so sánh của mình dé từ đó sản xuất ra những sản pham có tính cạnh tranh cao đáp ứng được nhu cầu trên thị trường xuất khâu. Lựa chọn thị trường xuất khẩu Lựa chọn thị trường là chìa khóa đề xác định khả năng thành công của doanh nghiệp ở một thị trường xuất khẩu. Lựa chọn thị trường cần hướng tới thông tin tri thức về thị trường. Đó là những thông tin chiến lược được tồng hợp và phân tích bang cách tổng kết các xu hướng hoặc sự kiện trên thị trường dé giúp doanh nghiệp xác định các cơ hội thị trường mới.
Mức độ sẵn sàng xuất khâu của bạn cũng là một yếu tô xác định tiềm năng của bạn ở thị trường nước ngoài. Việc đánh giá chính xác liệu bạn đã sẵn sảng thâm nhập thị trường toàn cầu hay chưa về mặt nguồn lực và kiến thức sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian, nỗ lực và nguồn lực quý giá cho phát triển xuất khâu. Lựa chọn bạn hàng xuất khẩu Có lẽ đây là phan công việc khó khăn nhất trong các hoạt động chuẩn bị xuất khẩu. Một đối tác tốt có thể giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường thuận lợi và hiệu quả, trong khi một đối tác tồi có thé làm hỏng tat cả.
Đó là giai đoạn quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp. Các nhà xuất khâu đều cho rằng nhiệm vụ này vô cùng quan trọng vì đó là một nhiệm vụ rất tinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng bản liệt kê tiêu chí dé mời tô chức hỗ trợ kinh doanh (BSO) hoặc Đại sứ quán của họ tại thị trường mục tiêu giúp họ sàng lọc một danh sách sơ khảo các đối tác có tiềm năng. Đôi khi công việc đó diễn ra suôn sẻ, nhưng hầu như không được như ý muốn.
Việc thuê các nhà tư vấn giúp doanh nghiệp lựa chọn đối tác có thé sẽ dem đến thành công hơn, nhưng các hiệp hội ngoại thương có thể sẽ giúp họ khi họ cũng có nhu cầu tìm các nhà cung cấp mới. Hoặc các tô chức xúc tiến nhập khẩu như Tổ chức xúc tiễn nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan (CBI) có thé giúp các doanh nghiệp với điều kiện họ là thành viên tham gia chương trình phát triển xuất khẩu (EDP) của CBI. Việc cố gắng có được tên của các đối tác kinh doanh thường rất khó khăn và doanh nghiệp sẽ cần phải có sự sáng tạo và kiên nhẫn dé có thê đi đến thành công. Nhưng ít nhất doanh nghiệp sẽ nhận biết được một đối tác tốt bằng cách so sánh họ với danh sách tiêu chí của doanh nghiệp.
Có khi doanh nghiệp phải đàm phán với một đối tác thứ ba, không phải chỉ về lợi ích kinh doanh của các bên mà còn cần trách nhiệm và sự tin cậy giữa các bên. Lựa chọn phương thức giao dịch Phương thức là những cách thức doanh nghiệp sử dụng dé thực hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới. Hiện nay có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như: giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch thông qua hội trợ triển lãm. Tùy vào khả năng của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn phương thức giao dịch sao cho đảm bảo các mục tiêu của sản xuất kinh doanh.
Đàm phán và kỷ kết hợp dong Trong khi đàm phán, người mua và người bán phải thống nhất các điều kiện, điều đó sẽ phản ánh năng lực thương lượng trong đàm phán của mỗi bên. Thông thường, họ sẽ thống nhất ở điểm nào đó khi cân nhắc giữa chỉ phí và rủi ro, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người mua và người bán, có thể nghiêng nhiều hoặc ít về một bên. Họ sẽ tìm thấy sự cân bằng làm thoả mãn cả hai bên. Khi có thiệt hại xảy ra, hoặc người mua hoặc người bán phải chịu trách nhiệm (hoặc hãng vận chuyên, người đóng vai trò trong vận chuyên hàng hoá) hoặc bên thứ ba, thường là công ty bảo hiểm, người chi trả những rủi ro không kiểm soát được.