Chương I. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng hóa Chương II. Thực trạng năng lực cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH CỦA HÀNG HÓA 1.
Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là biểu hiện tất yếu của kinh tế thị trƣờng, thông qua cạnh tranh sẽ tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Về mặt lý luận, đã có nhiều công trình nghiên cứu với các trƣờng phái cổ điển, tân cổ điển, hiện đại đề cập đến các nội dung cơ bản liên quan đến cạnh tranh, trong đó, khái niệm về cạnh tranh hết sức phong phú. Tuy nhiên, có thể tóm tắt một số đặc trƣng cơ bản của cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh là hiện tƣợng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong nền kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn. Để phát huy đƣợc mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. Trong điều kiện HNKTQT hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau.
Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lƣợng, 5 z mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản. Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc ta về cạnh tranh cũng đã đƣợc khẳng định trong Văn kiện Đại hội VIII “cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau”.13] Thuật ngữ “cạnh tranh” đƣợc dùng ở đây là cách gọi của cụm từ “cạnh tranh kinh tế”( Economics Competition)- một dạng của cạnh tranh trong kinh tế thị trƣờng.
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các quy luật thị trƣờng, nhƣ quy luật giá trị, quy luật cung- cầu. Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trƣờng cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa. Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành đƣợc những điều kiện thuận lợi nhất để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch về phía mình.
Cạnh tranh còn là phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế- xã hội của các chế độ xã hội mà ngƣợc lại, bản chất KT-XH của chế độ xã hội chi phối tính chất cạnh. Từ phân tích những nhận định trên, khái niệm chủ yếu về cạnh tranh kinh tế có thể hiểu: “ Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
6 z Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh đƣợc phân chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu thức khác nhau: Dƣới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trƣờng, có cạnh tranh giữa ngƣời sản xuất với nhau, giữa ngƣời bán với ngƣời bán, giữa ngƣời mua và ngƣời bán, ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, và giữa ngƣời mua với nhau. Dƣới góc độ thị trƣờng thì có hai loại cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Dƣới góc độ các công đoạn sản xuất- kinh doanh, ngƣời ta cho rằng có ba loại: cạnh tranh trƣớc khi bán hàng và trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng.
Dƣới góc độ mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Ngày nay phát triển cách phân loại trên các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. Dƣới góc độ phạm vi lãnh thổ, ngƣời ta nói tới cạnh tranh trong nƣớc và cạnh tranh quốc tế. Vai trò và tính hai mặt của cạnh tranh 1.Vai trò của cạnh tranh - Cạnh tranh làm cho giá cả hàng hóa giảm.
Trên thị trƣờng không chỉ có một nhà cung cấp hàng hóa mà có nhiều nhà cung cấp hàng hóa. Với cùng một loại hàng hóa hặc cùng chủng loại hàng hóa với các mẫu mã, chất lƣơng, tính năng, công dụng nhƣ nhau, doanh nghiệp nào bán ra với giá rẻ hơn các đối thủ thì sẽ chiếm lĩnh đƣợc khách hàng. Bởi vì ngƣời tiêu dùng luôn tìm đến nơi có hàng hóa chất lƣợng tốt, giá rẻ để mua. Và ngƣợc lại, doanh 7 z nghiệp nào bán hàng hóa với giá cao sẽ bán chậm hoặc sẽ không bán đƣợc hàng hóa.
Vì vậy, để bán đƣợc hàng hóa các doanh nghiệp thƣờng cạnh tranh với nhau và đẩy giá hàng hóa giảm xuống. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải tối ƣu các yếu tố đầu vào để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tứ đó định ra giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh trạnh. - Nhờ có cạnh tranh mà nhu cầu của ngƣời tiêu dùng ngày càng đƣợc đáp ứng và thỏa mãn. Do trên thị trƣờng có nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp cung cấp nhiều hàng hóa với chủng loại, mẫu mã khác nhau nên nó kích thích nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Ngƣời tiêu dùng đƣợc quyền chọn mua những hàng hóa chất lƣợng tốt, giá rẻ, đáp ứng đƣợc nhu cầu của mình. Hơn nữa, để tạo ra những hàng hóa có chất lƣợng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và tăng tính cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp phải thay đổi dây truyền sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Ngƣời sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Do đó, cạnh tranh là áp lực đối với ngƣời sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội ngày càng phát triển.
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải dữ “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng lên. Trên thị trƣờng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, chỉ doanh nghiệp nào cung cấp hàng hóa chất lƣợng tốt, mẫu mã đẹp, giao hàng đúng số lƣợng, đúng địa điểm và đúng thời hạn, dịch vụ bảo hành, chăm sóc khách hàng tốt…sẽ dữ đƣợc “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng và sẽ chiếm lĩnh đƣợc thị trƣờng. Ngƣợc lại, doanh nghiệp nào không dữ đƣợc “chữ tín” với khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp đó sẽ giảm, ngƣời tiêu đùng không còn tin 8 z tƣởng và tiêu dùng hàng hóa của doanh nghiệp đó nữa. Doanh nghiệp đó sẽ không có chỗ đứng trên thị trƣờng.
- Cạnh tranh có vai trò sắp xếp lại thị trƣờng. Trên thị trƣờng bây giờ không chỉ có một nhà cung ứng mà có nhiều nhà cung ứng sản phẩm hàng hóa. Các nhà cung ứng này giành giật nhau thị phần trên thị trƣờng. Để có thể tồn tại trên thị trƣờng các doanh nghiệp cần phải xác định mình kinh doanh hàng hóa gì và tập trung vào đối tƣợng khách hàng nào để khai thác tốt đối tƣợng khách hàng đó và dần chiếm lĩnh thị trƣờng.
Tuy nhiên, nhu cầu của khách hàng là đa dạng và nguồn lực doanh nghiệp là có hạn nên mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng hết tất cả nhu cầu của khách hàng và do đó không thể chiếm lĩnh hết thị trƣờng mà chỉ khai thác đƣợc một phần của thị trƣờng. Tính hai mặt của cạnh tranh Về mặt tích cực: - Đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tăng cƣờng đầu tƣ chiều rộng và chiều sâu, từ đó thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển nhanh nền kinh tế quốc dân. - Đối với các chủ thể kinh doanh, bằng sự hấp dẫn từ lợi nhuận của sự đi trƣớc về chất lƣợng, mẫu mã hàng hóa và áp lực phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải thƣờng xuyên tìm tòi, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lƣợng sản phẩm mới. Rõ ràng, cạnh tranh là một sự sàng lọc một mặt, nó nâng cao trình độ mọi mặt của những ngƣời lao động sản xuất, nhất là đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh.
Mặt khác, cạnh tranh đào thải nghiêm khắc các chủ thể kinh tế không thích ứng trƣớc sự khắc nghiệt của thị trƣờng. - Đối với ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả, buộc các nhà doanh nghiệp phải phản ứng tự phát phù hợp với mong muốn của ngƣời tiêu dùng về giá cả, chủng loại, mẫu mã, chất lƣợng hàng hóa 9 z và dịch vụ. Thông thƣờng cạnh tranh làm xu hƣớng giá cả ngày càng giảm, lƣợng hàng hóa trên thị trƣờng ngày một tăng, chất lƣợng tốt, đa dạng và mới phù hợp với mong muốn của ngƣời tiêu dùng, mặc dù các doanh nghiệp không muốn điều đó.