Luận Văn Thạc Sĩ Về Thừa Phát Lại Trong Thi Hành Án Dân Sự

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu ls thừa phát lại trong thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1. Khái niệm Thừa phát lại

1.2. Lược sử pháp luật về Thừa phát lại trong thi hành án dân sự ở Việt Nam

1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1950

1.2.3. Giai đoạn từ năm 1950 đến 1975

1.2.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2009

1.2.5. Giai đoạn từ năm 2009 đến nay

1.3. Mô hình tổ chức Thừa phát lại ở một số nước trên thế giới

1.3.1. Mô hình tổ chức Thừa phát lại ở Pháp

1.3.2. Mô hình Thừa phát lại ở Úc

1.3.3. Mô hình Thừa phát lại ở Đức

1.4. Cơ sở của việc thực hiện Thừa phát lại trong thi hành án dân sự ở Việt Nam

1.4.1. Cơ sở lý luận cho việc thực hiện Thừa phát lại ở Việt Nam

1.4.2. Cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện Thừa phát lại ở Việt Nam

1.4.3. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Thừa phát lại ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

2.1. Quy chế về Thừa phát lại và văn phòng Thừa phát lại

2.2. Về những điều kiện, tiêu chuẩn của Thừa phát lại

2.3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại

2.4. Về văn phòng Thừa phát lại

2.5. Quy định về hoạt động của Thừa phát lại và văn phòng Thừa phát lại

2.6. Tống đạt văn bản theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự

2.7. Về lập vi bằng

2.8. Về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

2.9. Về tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự

3. CHƯƠNG 3: THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM, THỰC TIỄN THÍ ĐIỂM, NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Tình hình thực hiện thí điểm Thừa phát lại

3.2. "Luật hóa" chủ trương của Đảng, nghị quyết của Quốc hội về Thừa phát lại

3.3. Tuyên truyền về Thừa phát lại

3.4. Quản lý, kiểm tra, giám sát, kiểm sát hoạt động Thừa phát lại

3.5. Kết quả cụ thể đạt được trong quá trình thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại

3.6. Những khó khăn, bất cập từ thực tiễn thực hiện thí điểm Thừa phát lại

3.6.1. Khó khăn trong việc triển khai thực hiện chủ trương về Thừa phát lại

3.6.2. Bất cập trong thực hiện quy định của pháp luật về Thừa phát lại

3.7. Một số kiến nghị về Thừa phát lại ở Việt Nam

3.7.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại

3.7.2. Kiến nghị tổ chức thực hiện pháp luật về Thừa phát lại

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Thừa Phát Lại Trong Thi Hành Án Dân Sự

Thừa phát lại là một khái niệm quan trọng trong hệ thống tư pháp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Khái niệm này không chỉ phản ánh sự phát triển của pháp luật mà còn thể hiện vai trò của các cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Thừa phát lại có nhiệm vụ tống đạt văn bản, lập vi bằng và thực hiện các công việc liên quan đến thi hành án. Việc nghiên cứu thừa phát lại trong thi hành án dân sự giúp làm rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ và vai trò của nó trong hệ thống pháp luật hiện hành.

1.1. Khái niệm và vai trò của Thừa Phát Lại

Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện các công việc liên quan đến thi hành án dân sự. Vai trò của thừa phát lại không chỉ dừng lại ở việc tống đạt văn bản mà còn bao gồm việc lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Điều này giúp đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

1.2. Lịch sử phát triển của Thừa Phát Lại ở Việt Nam

Thừa phát lại đã xuất hiện ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Từ những quy định ban đầu cho đến các văn bản pháp luật hiện hành, thừa phát lại đã dần được hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội. Việc nghiên cứu lịch sử phát triển này giúp hiểu rõ hơn về những thay đổi trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành án.

II. Những Thách Thức Trong Việc Thi Hành Thừa Phát Lại

Mặc dù thừa phát lại đã được quy định trong pháp luật, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như sự thiếu hiểu biết của người dân về vai trò của thừa phát lại, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và những bất cập trong quy định pháp luật đang gây khó khăn cho hoạt động thi hành án. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả của thừa phát lại trong thi hành án dân sự.

2.1. Thiếu hiểu biết về Thừa Phát Lại trong xã hội

Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ về vai trò và chức năng của thừa phát lại trong hệ thống tư pháp. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách tiếp cận và sử dụng dịch vụ của thừa phát lại, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ trong các vụ án dân sự.

2.2. Bất cập trong quy định pháp luật về Thừa Phát Lại

Các quy định pháp luật hiện hành về thừa phát lại còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp luật và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động thi hành án.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thừa Phát Lại Trong Thi Hành Án

Để nâng cao hiệu quả của thừa phát lại trong thi hành án dân sự, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải cách quy định pháp luật, tăng cường tuyên truyền về vai trò của thừa phát lại và cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng là những yếu tố quan trọng. Những giải pháp này sẽ giúp thừa phát lại hoạt động hiệu quả hơn, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

3.1. Cải cách quy định pháp luật về Thừa Phát Lại

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến thừa phát lại để đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Việc này sẽ giúp thừa phát lại hoạt động hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

3.2. Tăng cường tuyên truyền về vai trò của Thừa Phát Lại

Tuyên truyền về vai trò và chức năng của thừa phát lại là rất cần thiết. Các cơ quan chức năng cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền để người dân hiểu rõ hơn về thừa phát lại, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Thừa Phát Lại Trong Thi Hành Án Dân Sự

Thực tiễn thi hành án dân sự với sự tham gia của thừa phát lại đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Thừa phát lại đã giúp giảm tải công việc cho các cơ quan tư pháp, đồng thời nâng cao tính minh bạch và khách quan trong quá trình thi hành án. Những ứng dụng thực tiễn này cần được ghi nhận và phát huy để nâng cao hiệu quả hoạt động của thừa phát lại.

4.1. Kết quả đạt được từ hoạt động của Thừa Phát Lại

Hoạt động của thừa phát lại đã giúp giảm bớt áp lực cho các cơ quan thi hành án, đồng thời nâng cao tính minh bạch trong quá trình thi hành án. Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của thừa phát lại trong hệ thống tư pháp.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ thực tiễn hoạt động của thừa phát lại, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài học này sẽ giúp cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của thừa phát lại trong tương lai.

V. Kết Luận và Đề Xuất Về Thừa Phát Lại Trong Thi Hành Án Dân Sự

Kết luận về vai trò của thừa phát lại trong thi hành án dân sự cho thấy đây là một phần không thể thiếu trong hệ thống tư pháp. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của thừa phát lại, cần có những đề xuất cụ thể nhằm cải cách quy định pháp luật, tăng cường tuyên truyền và cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Những đề xuất này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự tại Việt Nam.

5.1. Đề xuất cải cách quy định pháp luật

Cần có những đề xuất cụ thể nhằm cải cách quy định pháp luật về thừa phát lại để đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của thừa phát lại trong thi hành án.

5.2. Đề xuất tăng cường tuyên truyền và phối hợp

Tăng cường tuyên truyền về vai trò của thừa phát lại và cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng là rất cần thiết. Những đề xuất này sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của thừa phát lại trong thi hành án dân sự.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls thừa phát lại trong thi hành án dân sự

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM THỪA PHÁT LẠI Trên thế giới, Thừa phát lại hình thành, phát triển từ rất sớm và Pháp là nơi bắt nguồn của Thừa phát lại trên toàn thế giới. Tại Pháp, từ thời La Mã cổ đại, Thừa phát lại đã có quy chế là nghề tự do; trong thời kỳ quân chủ hay thậm chí đến thời kỳ cách mạng năm 1792 và cả thời đế chế thứ nhất, nghề Thừa phát lại luôn được hưởng một quy chế nhất định vì các văn bản do các Thừa phát lại lập ra bị đánh thuế rất cao và là nguồn thu ngân sách đáng kể cho Nhà nước. Ban đầu, thời La Mã cổ đại, Thừa phát lại là những người được gọi là "officiales" được các Quan tòa ở Pháp sử dụng để thực hiện hai chức năng là gìn giữ trật tự tại phiên tòa và kê biên tài sản của những con nợ chây ỳ hoặc đưa những người đó vào tù.

Đến thời Trung cổ, những người thực hiện các chức năng ở trên được chia thành "Sergent" - là những người chủ yếu làm nhiệm vụ tống đạt văn bản, thi hành án và "Huissier" - dịch sang tiếng Việt là Thừa phát lại, là những người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự tại phiên tòa. Đến năm 1705, hai chức năng "Sergent" và "Huissier" được tập trung lại và giao cho một người duy nhất thực hiện là Thừa phát lại. Chế định Thừa phát lại được ra đời từ thời điểm đó, được duy trì, phát triển và nhân rộng sau này. Các Thừa phát lại Pháp thông qua Liên minh Quốc tế các Thừa phát lại, Nhân viên tư pháp, Hội đồng Thừa phát lại Quốc gia và Trường Tố tụng quốc gia cùng các đồng nghiệp châu Âu đã góp phần quảng bá, phổ biến pháp luật Pháp, pháp luật châu Âu và đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến Thừa phát lại đến các quốc gia khác trên Thế giới.

Ở Pháp, Điều 1 Pháp lệnh số 452592 ngày 02/11/1945 quy định thẩm quyền theo nội dung của Thừa phát lại và tổ chức nghề Thừa phát lại quy định: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thừa phát lại là người sở hữu một tước vị, có độc quyền trong việc tống đạt văn bản và văn bản tố tụng, tiến hành các thủ tục thông báo được pháp luật quy định trong trường hợp không quy định rõ phương thức thông báo, và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các văn bản có hiệu lực thi hành khác…[28]. Cùng với sự phát triển của Thừa phát lại ở Pháp, các nước châu Âu như Anh, xứ Galles, Bỉ, Hà Lan, Ê-cốt, Hy Lạp, Luých-xăm-bua, các Thừa phát lại luôn có quy chế nghề độc lập. Sau khi liên bang Xô-viết tan rã, nhiều nước Trung Âu chuyển mình phát triển theo mô hình tự do, các quốc gia như Hungary, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Slovakia, Slovennia, Lét-tô-ni, Lít-tua-ni, Etsx-tô-ni đã thừa nhận Thừa phát lại là nghề tự do, độc lập với quyền lực Nhà nước. Thừa phát lại có thể sử dụng phương pháp tống đạt cùng với phương pháp thông báo bằng đường bưu điện nhưng về nguyên tắc phải thực hiện phương thức tống đạt trong đại đa số các trường hợp để thông báo cho đương sự và thi hành bản án, quyết định của Tòa.

Các nước như Ba Lan, Hungary, Lít-tua-ni, Etsx-tô-ni quy định thẩm quyền lập vi bằng của Thừa phát lại và cho phép sử dụng văn bản vi bằng của Thừa phát lại như một loại chứng cứ. Còn ở một số quốc gia khác như Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đan Mạch,. chấp hành viên là công chức nhưng dường như cũng hoạt động theo phương thức nghề tự do, cụ thể như sau: (i) Chấp hành viên độc lập với Tòa án; (ii) Chấp hành viên chịu trách nhiệm về tài chính, nghề nghiệp và kỷ luật; (iii) Nhà nước không trả lương dưới bất cứ hình thức nào cho những người hành nghề độc lập này. Còn ở một số nước châu Phi, Thừa phát lại cũng có quy chế nghề tự do và độc lập, có cơ cấu tổ chức giống như ở Pháp và các nước châu Âu khác.

Ở Việt Nam, Thừa phát lại là khái niệm xuất hiện từ thời Pháp thuộc, Thừa phát lại không phải là viên chức, không hưởng lương từ Ngân khố Quốc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia, hoạt động không theo chế độ công vụ. Do được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau nên trước đây Thừa phát lại ở nước ta được gọi theo những tên gọi khác nhau theo từng miền như Chưởng tòa (Miền Bắc), Mõ tòa (Miền Trung) và Thừa phát lại (Miền Nam). Thừa phát lại là một từ Hán - Việt: Thừa có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa lệnh (nguyên nghĩa là chuyển tải); phát nghĩa là phát ra, đưa đến; lại là một viên chức thực hiện lệnh của quan. Còn theo quy định của pháp luật hiện hành mà cụ thể là Nghị định 61/2009/NĐ-CP, "Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan" [16].

Thừa phát lại được tham gia những công việc mang tính chất hỗ trợ Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự tống đạt các văn bản giấy tờ và các hoạt động thi hành án. Qua trên có thể thấy, so với Thừa phát lại ở các nước trên thế giới, Thừa phát lại ở Việt Nam có phạm vi hoạt động bó hẹp hơn. Công việc của Thừa phát lại ở các nước trên thế giới là công việc độc quyền, chỉ Thừa phát lại mới được làm. Ngoài ra, Thừa phát lại ở các nước còn được tiến hành các hoạt động tư pháp khác như đấu giá tài sản, đại diện khách hàng, hòa giải.

Nhìn chung, do quy định về Thừa phát lại ở mỗi quốc gia khác nhau mà phạm vi hoạt động của Thừa phát lại cũng khác nhau nhưng tựu chung Thừa phát lại có những đặc điểm cơ bản sau: - Thừa phát lại là người đạt đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện một số công việc theo quy định của pháp luật; - Thừa phát lại là người hành nghề tự do, không phải là công chức, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ nhưng khi thực hiện một số công việc nhất định lại có quyền như những cán bộ, công chức; 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thừa phát lại thực hiện các công việc chủ yếu như: Tống đạt văn bản, giấy tờ và thi hành án; - Thừa phát lại hoạt động tuân theo những nguyên tắc về quy chế hoạt động, đạo đức nghề nghiệp mà pháp luật quy định, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra khái niệm về Thừa phát lại như sau: Thừa phát lại là người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện công việc tống đạt các văn bản, giấy tờ của Tòa án, Cơ quan thi hành án; lập vi bằng; trực tiếp thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các công việ c khác theo quy đ ị nh củ a pháp luậ t. Thừ a phát lạ i hành nghề tự do và chịu sự giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. LƢỢC SỬ PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 1.

Giai đoạn trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945 Ngày 05 /6/1862, đại diện triều đình nhà Nguyễn (thời vua Tự Đức) là Chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiệp đã ký kết với đại diện của Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos Palanca Gutiere Hiệp ước Nhâm Tuất. Sau Hiệp ước Nhâm Tuất, "Nam Kỳ Lục tỉnh" của nước ta nằm dưới sự cai trị của người Pháp, họ đã tiến hành phân chia lại địa giới hành chính, thiết lập chính quyền cai trị, hệ thống Tòa án và cùng với đó là việc áp dụng hệ thống hệ thống luật của Pháp vào sáu tỉnh Nam Kỳ nước ta. Thừa phát lại cũng từ đó mà du nhập vào Việt Nam. Ban đầu, Thừa phát lại chỉ xuất hiện ở Nam Kỳ còn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ chưa có chế định Thừa phát lại, những công việc của Thừa phát lại như trát đòi hầu tòa, truyền phiếu,.

vẫn do các môn lại, môn vệ - tức là các sứ giả của nhà vua thực hiện. Sau đó, triều đình nhà Nguyễn tiếp tục ký kết các Hòa ước, Hiệp ước song phương với Pháp, pháp luật của Pháp nói chung và chế 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định Thừa phát lại nói riêng được áp dụng rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Cụ thể, thuật ngữ Thừa phát lại đã chính thức được ghi nhận trong các văn bản: (i) "Bộ Dân sự tố tụng Nam Việt" ban hành kèm Nghị định ngày 16/3/1910 ở Nam Kỳ; (ii) "Bộ dân luật Trung năm 1936 - 1939" ban hành kèm Bộ Hộ sự, Thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 ở Trung Kỳ; (iii) "Bộ luật Bắc năm 1931" kèm theo Bộ Dân sự tố tụng Bắc năm 1917 ở Bắc Kỳ [13, tr. Thừa phát lại trong thời kỳ này là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy định của pháp luật, được hưởng thù lao do khách hàng trả dựa trên biểu giá theo pháp luật quy định.

Công việc của Thừa phát lại theo quy định là thực hiện nhiệm vụ hoạt động Thi hành án dân sự. Tại phiên tòa, Thừa phát lại là nhiệm vụ thông báo tòa khai mạc, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự, thông báo bế mạc phiên tòa; ngoài ra, Thừa phát lại còn thực hiện nhiệm vụ tống đạt giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án, triệu tập đương sự, lập các văn bằng theo quy định của pháp luật, thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật,. Nhìn chung, Thừa phát lại ở nước ta trong thời kỳ này chủ yếu dựa trên khuôn mẫu được ghi nhận trong Bộ Dân luật Pháp năm 1804 và Bộ Dân sự Tố tụng Pháp năm 1807.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ