Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chế định thừa kế là một trong những bộ phận pháp luật xuất hiện sớm nhất trong lịch sử luật dân sự, gắn liền với sự hình thành của chế độ tư hữu và nhu cầu dịch chuyển tài sản của cá nhân sau khi qua đời. Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam đã kế thừa, sửa đổi và bổ sung nhiều quy định từ Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm tạo sự tương thích với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Quy định pháp luật Việt Nam phân định hai hình thức thừa kế cơ bản: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong khi thừa kế theo di chúc phản ánh ý chí cá nhân của người để lại di sản, thì thừa kế theo pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc điều chỉnh quan hệ dịch chuyển tài sản dựa trên sự phỏng đoán ý chí của người chết đối với những người có quan hệ gắn bó thân thuộc nhất.
Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn, thói quen lập di chúc của người dân Việt Nam nói chung và trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nói riêng vẫn chưa phổ biến do ảnh hưởng của tâm lý truyền thống Á Đông. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp có lập di chúc nhưng bản di chúc lại bị vô hiệu do vi phạm các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung hoặc hình thức. Do vậy, phần lớn các quan hệ tranh chấp di sản tại thị xã Điện Bàn đều được giải quyết thông qua chế định thừa kế theo pháp luật. Đồng thời, sự phát triển của kinh tế thị trường khiến di sản không còn giới hạn ở các tài sản hữu hình truyền thống mà mở rộng sang các dạng tài sản mới như cổ phần, phần vốn góp doanh nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ, làm gia tăng tính chất phức tạp của các tranh chấp tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận về chế định thừa kế theo pháp luật, khảo sát và đánh giá thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác xét xử.
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nội dung:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật, bao gồm: khái niệm, đặc điểm của thừa kế theo pháp luật, khái niệm diện thừa kế, ý nghĩa của quy định về thừa kế theo pháp luật, thừa kế thế vị, xác định di sản thừa kế.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn - tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thừa kế theo pháp luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy phạm điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cụ thể là thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu thực tiễn xét xử trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về sở hữu tư nhân và quyền thừa kế, được hiến định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013: quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Về mặt lý thuyết, tác giả vận dụng luận điểm của Ph. Ăng-ghen: "Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống", kết hợp việc phân tích quyền thừa kế dưới hai góc độ khách quan (hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế) và chủ quan (quyền dân sự của cá nhân trong việc định đoạt hoặc hưởng di sản). Khung pháp lý chủ đạo bao gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều: 3, 609, 644, 649, 650, 651, 652, 653, 655, 660); có đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Pháp lệnh Thừa kế năm 1990.
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các điều: 9, 68, 78, 104, 106, 113, 114) điều chỉnh quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con, con nuôi và con riêng.
- Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (Điều 24 về hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi).
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 (Điều 20, Điều 45, Điều 139 quy định về quyền tài sản và giới hạn quyền thừa kế đối với chỉ dẫn địa lý).
- Thông tư 594 hướng dẫn về quyền hưởng di sản thừa kế của con nuôi.
Về tổng quan nghiên cứu, tác giả tổng hợp các công trình lý luận trong nước gồm: Phùng Trung Tập (2004), Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2013, 2017), Nguyễn Văn Huy (2017), Vũ Thị Hồng Vân (2016), Nguyễn Minh Tuấn (2007), Tưởng Duy Lượng (2009). Ở bình diện quốc tế, khóa luận kế thừa các góc nhìn so sánh từ tài liệu khảo sát của Trung tâm về quyền và nhà ở tại cận Sahara châu Phi (2004), bài viết của Trần Thị Huệ (2006) về di sản trong luật La Mã, Pháp, Thái Lan, Nhật Bản, Canada; cùng các chuyên khảo của Carole Shammas, Marylyn Salmon, Michel Dililin (1987) về luật Hoa Kỳ, Eric P. về luật Canada và Đức, và Schuweizei Kobras (2012) về luật thừa kế của Đức và Australia.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các chế định pháp luật, giải thích quy phạm và chuẩn hóa các khái niệm học thuật.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 với các văn bản tiền nhiệm (BLDS 1995, 2005) và pháp luật của một số quốc gia.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thu thập và phân tích các số liệu thực tế qua Bảng 2 "Số liệu thống kê vụ án thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn" để đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, giáo trình và tài liệu nghiên cứu pháp lý chuyên ngành, cùng các báo cáo thống kê, tài liệu xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật
Chương này làm rõ khái niệm, bản chất và các yếu tố cấu thành chế định thừa kế theo pháp luật. Tác giả xác định thừa kế theo pháp luật là phương thức dịch chuyển di sản của người chết cho người còn sống có một trong ba mối quan hệ (hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) theo điều kiện, hàng và trình tự luật định. Ba đặc điểm bản chất của thừa kế theo pháp luật được phân tích sâu:
- Chủ thể hưởng di sản chỉ có thể là cá nhân (không mở rộng cho cơ quan, tổ chức như thừa kế theo di chúc).
- Người thừa kế chỉ được hưởng theo điều kiện luật định: phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước đó; bao gồm cả trường hợp thụ thai sau khi người để lại di sản chết thông qua công nghệ hỗ trợ sinh sản từ vật liệu di truyền đã lưu trữ có văn bản đồng ý; không bị tước quyền (như cố ý tước đoạt tính mạng người để lại di sản, lừa dối, cưỡng ép lập di chúc) và không bị truất quyền hưởng di sản.
- Di sản bắt buộc phải dịch chuyển theo hàng thừa kế và phân chia theo các kỷ phần bằng nhau giữa những người cùng hàng.
Chương 1 cũng phân tích ý nghĩa pháp lý của chế định: bảo đảm khối di sản luôn có chủ thể định đoạt; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người thân thích gắn bó theo đạo lý truyền thống; góp phần củng cố trật tự xã hội và tạo động lực tích lũy của cải vật chất. Về cách xác định di sản thừa kế, tác giả hệ thống hóa các nhóm tài sản:
- Tài sản riêng của người chết: Tài sản có trước thời kỳ hôn nhân; tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng; tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu và tài sản thuộc doanh nghiệp tư nhân do cá nhân làm chủ.
- Phần tài sản trong khối tài sản chung: 1/2 tài sản chung hợp nhất của vợ chồng; phần giá trị tài sản trong sở hữu chung theo phần với người khác; phần vốn góp trong công ty TNHH hoặc cổ phần trong công ty cổ phần.
- Quyền tài sản: Quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ (như quyền làm tác phẩm phái sinh, sao chép, phân phối theo Điều 20 Luật SHTT 2022). Quyền đối với chỉ dẫn địa lý không thuộc di sản thừa kế do thuộc quyền sở hữu của Nhà nước theo Khoản 2 Điều 139 Luật SHTT năm 2022.
- Hai luồng quan điểm về nghĩa vụ tài sản: Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng di sản bao gồm cả nghĩa vụ vô hạn; luồng quan điểm thứ hai (phù hợp với pháp luật Việt Nam) xác định người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi giá trị di sản được nhận.
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật và thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 2 tập trung mổ xẻ các nguyên tắc và quy phạm cụ thể điều chỉnh việc áp dụng pháp luật, kết hợp khảo sát thực tiễn tư pháp địa phương. Các nguyên tắc cơ bản gồm: bình đẳng về quyền để lại và nhận di sản; tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các chủ thể; bảo đảm quyền hưởng di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644 BLDS năm 2015 (hưởng 2/3 một suất thừa kế theo luật đối với cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động).
Căn cứ Điều 650 BLDS năm 2015, tác giả hệ thống hóa 6 trường hợp phát sinh việc phân chia di sản theo pháp luật: không có di chúc; di chúc không hợp pháp; người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc (hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt tồn tại); người được chỉ định không có quyền hưởng hoặc từ chối nhận; phần di sản chưa được định đoạt trong di chúc; và trường hợp giải quyết cho người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Quy định về hàng thừa kế (Điều 651), thừa kế thế vị (Điều 652, 653) và thủ tục phân chia di sản (Điều 660) được tổng hợp như sau:
| Hàng thừa kế |
Các chủ thể thuộc diện thừa kế theo Điều 651 BLDS 2015 |
Nguyên tắc phân chia và điều kiện áp dụng |
| Hàng thứ nhất |
Vợ, chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi của người chết. |
Hưởng các kỷ phần bằng nhau. Người ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước do chết, không có quyền, bị truất quyền hoặc từ chối nhận. Vợ chồng đã chia tài sản chung hoặc đang xin ly hôn chưa có án hiệu lực vẫn được hưởng thừa kế. |
| Hàng thứ hai |
Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. |
Hưởng đều nhau khi hàng thứ nhất không còn người thừa kế hợp pháp. Con nuôi và con đẻ không phải là anh chị em ruột nên không thuộc hàng thứ hai của nhau. |
| Hàng thứ ba |
Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột gọi người chết là bác/chú/cậu/cô/dì ruột; chắt ruột gọi người chết là cụ nội/ngoại. |
Hưởng đều nhau khi hàng thứ nhất và hàng thứ hai không còn ai. |
| Thừa kế thế vị |
Con của người để lại di sản chết trước/cùng thời điểm thì cháu thế vị; cháu chết trước/cùng thì chắt thế vị (Điều 652 BLDS 2015). |
Áp dụng cho dòng trực hệ ("cha truyền con nối"). Cháu/chắt phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế; hưởng phần di sản cha/mẹ đáng lẽ được nhận. |
Về thực tiễn xét xử, chương trình bày cơ cấu tổ chức của TAND thị xã Điện Bàn và phản ánh thực trạng thụ lý các vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật thông qua dữ liệu Bảng 2 ("Số liệu thống kê vụ án thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn" giai đoạn 2018 - 2022). Quá trình giải quyết thực tế làm phát sinh nhiều vướng mắc: phân định công sức đóng góp của các đồng thừa kế trong việc quản lý, tôn tạo di sản là quyền sử dụng đất; việc xác minh các đồng thừa kế thuộc hàng thứ nhất đối với những vụ án mà người để lại di sản qua đời đã lâu; và tình trạng tài sản thừa kế biến động phức tạp qua nhiều giai đoạn đo đạc địa chính.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn
Trên cơ sở bất cập pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp, tác giả đưa ra hai nhóm giải pháp mang tính cấu trúc:
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Tăng cường rà soát, hệ thống hóa thường xuyên các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến thừa kế, bảo đảm tính thống nhất giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ).
- Sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp: luật hóa khái niệm thống nhất về di sản thừa kế; làm rõ cơ chế chuyển giao nghĩa vụ tài sản; quy định bổ sung quyền thừa kế thế vị cho con của người bị truất quyền hưởng di sản để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cháu, chắt.
- Kịp thời ban hành các văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn chi tiết về cách xác định, tính toán và phân chia di sản bằng hiện vật đối với quyền sử dụng đất và phần vốn góp trong doanh nghiệp.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án nhân dân nói chung và công tác áp dụng pháp luật về thừa kế nói riêng.
- Hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân cấp huyện, bảo đảm tính độc lập trong xét xử và tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác giám định, thẩm định tại chỗ.
- Đẩy mạnh công tác cán bộ: thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dân sự, cập nhật kỹ năng xử lý chứng cứ và nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án.
- Tăng cường công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, phát triển và áp dụng án lệ làm cơ sở định hướng giải quyết các quan hệ tranh chấp thừa kế có tính chất tương tự.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ bức tranh lý luận và thực tiễn xét xử chế định thừa kế theo pháp luật với các kết quả cụ thể:
- Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận về diện, hàng thừa kế, thừa kế thế vị và cơ chế dịch chuyển di sản theo Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; phân tích sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và chuẩn mực pháp lý quốc tế.
- Phân loại chi tiết khối di sản thừa kế theo luật định, bao gồm việc nhận diện các loại hình di sản mới (di sản phi truyền thống, cổ phần, vốn góp công ty, các quyền tài sản đối với sáng chế, quyền tác giả theo Luật SHTT năm 2022; đồng thời khẳng định chỉ dẫn địa lý bị loại trừ khỏi di sản thừa kế theo Khoản 2 Điều 139).
- Phản ánh thực tiễn giải quyết tranh chấp tại TAND thị xã Điện Bàn trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2022 thông qua Bảng 2 ("Số liệu thống kê vụ án thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn"). Qua đó, tác giả chỉ ra các rào cản từ việc người dân không lập di chúc hoặc lập di chúc vô hiệu, dẫn đến khối lượng thụ lý vụ việc theo pháp luật tại địa bàn chiếm tỷ trọng lớn.
- Đóng góp hệ thống 7 giải pháp toàn diện: bao gồm 3 giải pháp hoàn thiện lập pháp (hệ thống hóa văn bản, sửa đổi điều luật bất cập, ban hành văn bản hướng dẫn) và 4 giải pháp tư pháp cơ sở (tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ Tòa án, phát triển án lệ từ tổng kết xét xử).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi dữ liệu thực tiễn bị giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã (Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2022, chưa có điều kiện đối chiếu, so sánh số liệu với các địa phương khác trong cùng tỉnh hoặc khu vực duyên hải miền Trung.
- Các phân tích về di sản phi truyền thống chủ yếu dừng lại ở quyền sở hữu trí tuệ và vốn góp doanh nghiệp theo quy định của BLDS năm 2015 và Luật SHTT năm 2022; khóa luận chưa đề cập sâu đến việc xử lý các dạng tài sản số mới phát sinh trong thời đại công nghệ số (như tài khoản kỹ thuật số, dữ liệu cá nhân có giá trị kinh tế).
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử lên cấp Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh giữa Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn với các Tòa án cấp huyện lân cận để đánh giá tính đặc thù địa phương.
- Nghiên cứu cơ chế định giá, quản lý và phân chia các loại tài sản kỹ thuật số và quyền sở hữu công nghiệp phức hợp khi phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật.
Giá trị tham khảo
- Đối với người học và nghiên cứu: Khóa luận là tài liệu học tập tham khảo cho sinh viên ngành Luật và sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục Công dân (Khoa Giáo dục Chính trị). Nội dung luận giải về các điều luật thừa kế trong BLDS năm 2015 hỗ trợ xây dựng nội dung bài giảng phần Pháp luật Dân sự trong chương trình môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật ở trường phổ thông.
- Đối với cán bộ tư pháp và hành nghề luật: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư trong việc xác định diện thừa kế, xử lý các trường hợp thừa kế thế vị phức tạp của con nuôi, cũng như phân định di sản riêng và tài sản chung của vợ chồng tại các Tòa án cấp huyện.
- Phần đáng tham khảo nhất: Mục "Cách xác định di sản" (Chương 1) và phân tích các trường hợp áp dụng thừa kế theo Điều 650, phân tích ba hàng thừa kế theo Điều 651 BLDS năm 2015 (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo phân tích trong khóa luận, tại sao người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân mà không thể là cơ quan hay tổ chức?
Thừa kế theo pháp luật là phương thức dịch chuyển di sản dựa trên sự phỏng đoán ý chí của người để lại di sản khi họ không lập di chúc. Pháp luật xác định những người gần gũi nhất với người chết dựa trên ba mối quan hệ tự nhiên và nhân thân: hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Chỉ có cá nhân mới có thể tồn tại các mối quan hệ này với người đã chết; các cơ quan, tổ chức không thể có quan hệ nhân thân nên không thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Quyền sở hữu trí tuệ nào được xác định là di sản thừa kế và quyền nào bị pháp luật loại trừ?
Theo phân tích của tác giả dựa trên Luật SHTT năm 2022, các quyền tài sản thuộc quyền tác giả (như làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối theo Điều 20), quyền công bố tác phẩm (Khoản 2 Điều 45) và quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đều là di sản thừa kế. Ngược lại, quyền đối với chỉ dẫn địa lý không được coi là di sản thừa kế vì đối tượng này không được quyền chuyển giao và thuộc quyền sở hữu của Nhà nước theo Khoản 2 Điều 139 Luật SHTT năm 2022.
3. Khóa luận giải quyết vấn đề quyền thừa kế của con nuôi đối với gia đình cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi như thế nào?
Căn cứ Điều 652, 653 BLDS năm 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau theo hàng thừa kế thứ nhất. Người làm con nuôi người khác vẫn giữ nguyên quan hệ thừa kế đối với cha đẻ, mẹ đẻ và những người thân thích bên gia đình cha mẹ đẻ. Tuy nhiên, con nuôi không có quan hệ thừa kế với bố mẹ của cha mẹ nuôi, anh chị em ruột của cha mẹ nuôi, hay con đẻ của người nuôi con nuôi vì pháp luật không công nhận quan hệ huyết thống giữa họ.
4. Quy định về mức hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được tác giả trình bày ra sao?
Theo Điều 644 BLDS năm 2015, những người gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu không được người lập di chúc cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn 2/3 suất đó, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản.
5. Phạm vi khảo sát thực tế của tác giả tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn được thực hiện trong thời gian nào và qua công cụ thống kê nào?
Khảo sát thực tiễn của khóa luận được giới hạn trong thời gian 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022. Dữ liệu thực tiễn xét xử được tác giả thu thập và phản ánh cụ thể qua Bảng 2 ("Số liệu thống kê vụ án thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn") được dẫn chiếu trong Chương 2 của công trình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Yến Nhi đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi về chế định thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông qua khảo sát thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn giai đoạn 2018 - 2022, tác giả phản ánh đúng thực trạng tranh chấp di sản tại địa phương bắt nguồn từ thói quen ít lập di chúc và sự thay đổi về quy mô di sản trong nền kinh tế thị trường. Các giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao năng lực bộ máy Tòa án nhân dân cấp cơ sở được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp cho công tác nghiên cứu và áp dụng pháp luật dân sự tại Việt Nam.