Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật. Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật và thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết thừa kế theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 6. Trong nước Khái niệm thừa kế theo pháp luật đã được một số tác giả nghiên cứu trong các công trình như: sách “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của tác giả Phùng Trung Tập, do Nxb. Tư pháp xuất bản năm 2004; Sách “Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp”, Nxb. Tư pháp Hà Nội xuất bản năm 2017 của tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang; Tác giả Nguyễn Văn Huy trong cuốn sách “Thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội 2017, cho thấy có sự thống nhất cao và đều dựa trên quy định của các BLDS như Điều 677 3 BLDS 1995, Điều 674 BLDS 2005, Điều 649 BLDS 2015: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”. Trong các công trình nghiên cứu về thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng, có rất ít công trình nghiên cứu có đề cập tới đặc điểm của thừa kế theo pháp luật. Cụ thể: Sách: “Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Kiểm sát do tác giả Vũ Thị Hồng Vân làm chủ biên (2016) cũng nêu lên đặc điểm của thừa kế theo pháp luật so với thừa kế theo di chúc là người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân có một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản, nhưng người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức và không cần có mối quan hệ gì với người để lại di sản. Trong Nguyễn Văn Huy (2017), Thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, tác giả Nguyễn Văn Huy nêu ba đặc điểm của thừa kế theo pháp luật là: Một là về dịch chuyển tài sản, đồng quan điểm với tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2013) trong Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, tác giả Nguyễn Văn Huy nêu rõ: “Việc dịch chuyển tài sản theo hàng thừa kế do pháp luật quy định mà không theo ý chí của người để lại di sản. Việc dịch chuyển tài sản phải theo trình tự căn cứ vào hàng thừa kế. Người thừa kế ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước” [23, tr. Hai là, “căn cứ xác định người thừa kế: Người thừa kế phải thuộc diện thừa kế theo pháp luật, có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản” [23, tr.
Đây là điểm khác biệt rất lớn của thừa kế theo pháp luật so với thừa kế theo di chúc. Trong thừa kế theo di chúc thì vấn đề này hoàn toàn không được đặt ra. Ba là, đối với phần di sản được hưởng thì “những người thừa kế theo pháp luật được hưởng những kỷ phần bằng nhau” [23, tr.85] nhưng trong thừa kế theo di chúc thì các kỷ phần có giá trị lớn nhỏ phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản. Tóm lại, dù đặc điểm mà các tác giả nêu lên là khác nhau nhưng các tác giả đều xuất phát từ nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng thừa kế theo pháp luật là do người để lại di sản không thể hiện ý chí của mình đối với khối tài sản mà họ có trước khi chết nên pháp luật thay cho ý chí của người để lại di sản để định đoạt khối tài sản của họ sau khi 4 họ chết.
Pháp luật phân chia cho những người gần gũi nhất với người để lại di sản dựa trên ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo những điều kiện và trình tự luật định. Về ý nghĩa của quy định về thừa kế theo pháp luật, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới ý nghĩa của quy định về thừa kế như sau: Luận án Tiến sĩ luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong BLDS” năm 2007 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã khẳng định ý nghĩa của quy định pháp luật về thừa kế nói chung là “đóng vai trò quan trọng, điều chỉnh việc chuyển dịch di sản của người chết cho những người khác còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật” [22, tr. Sách: “Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử”, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009, tác giả Tưởng Duy Lượng đã nói về ý nghĩa của quy định về thừa kế là “một trong những phương tiện pháp lý cần thiết để bảo toàn và gia tăng sự tích lũy của cải xã hội” [11, tr.
Bởi vì tâm lý của đa số cá nhân đều muốn dành tài sản của mình cho những người mà họ thương yêu kể cả khi họ còn sống hay đã chết. Bản thân họ có thể lao động vất vả, chi tiêu tiết kiệm trước hết để duy trì cuộc sống, sau đó là dành lại cho những người thân của mình. Giả sử, pháp luật không công nhận quyền thừa kế của cá nhân mà cá nhân chỉ có quyền sở hữu tài sản của mình tới khi chết thì sẽ dẫn tới những hậu quả rất đáng tiếc, không thể tránh khỏi. Đó là việc triệt tiêu nguồn động lực khiến họ hăng say lao động, bên cạnh đó còn triệt tiêu động lực để duy trì khối tài sản mình có.
Khi đó họ sẽ tiêu dùng hoang phí dẫn tới lãng phí nguồn của cải của xã hội, thậm chí do không có tích lũy, có những người còn trở thành gánh nặng của xã hội khi có những biến cố trong cuộc sống. Chính vì vậy, ý nghĩa của quy định về thừa kế là rất lớn, giúp cá nhân “không chỉ kích thích tính tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng mà còn kích thích lòng say mê lao động sáng tạo, kích thích sự quản lý năng động của mỗi người; tạo ra sự thi đua thầm lặng của mỗi cá nhân nhằm nâng khối tài sản của mình lên bằng sức lực và khả năng sáng tạo mà họ có, chỉ khi đó, quyền sở hữu và quyền thừa kế mới trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội” [11, tr. Trong những năm qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề hàng thừa kế theo pháp luật: 5 Sách: “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của tác giả Phùng Trung Tập (2004) [21]. Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập tới diện và hàng thừa kế theo pháp luật dọc theo quá trình phát triển của chế định thừa kế theo pháp luật ở nước ta từ năm 1945 đến khi cuốn sách được xuất bản (năm 2004) và đưa ra những phân tích, bình luận của mình về vấn đề này, ví dụ như quy định của Thông tư 594 về quyền hưởng di sản thừa kế của một người khi người đó đã là con nuôi hợp pháp của một người khác.
Tác giả đã chỉ ra những bất cập của các quy định pháp luật về diện và hàng thừa kế ở các văn bản quy định về thừa kế nói chung cũng như quy định trong Thông tư 594 nói riêng. Ngoài nước Sách: “Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp” (2017) của tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang đã đề cập tới quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và pháp luật thừa kế của một số quốc gia trên thế giới như của Cộng hòa Pháp, của Thái Lan [8]. Theo tác giả, dù theo quy định của pháp luật Việt Nam hay quy định của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì diện và hàng thừa kế theo pháp luật cũng được quy định dựa vào “ý chí mang tính truyền thống” của người để lại di sản, có nghĩa là dù không bày tỏ được ý chí cụ thể của mình nhưng thông thường, người chết sẽ để lại di sản cho những người thân thích nhất của họ. Có thể nói những ai thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật cũng chính là dựa vào sự “phỏng đoán ý chí của người để lại di sản”.
Tập tài liệu “Promoting and protecting the inheritance rights of women” (Thúc đẩy và bảo vệ quyền thừa kế của phụ nữ) do Trung tâm về quyền và nhà ở tiến hành khảo sát về pháp luật và thực tiễn ở vùng cận Sahara châu Phi vào năm 2004 [27]. Tập tài liệu là kết quả của cuộc khảo sát về quyền thừa kế của phụ nữ ở vùng cận Sahara châu Phi. Đây là khu vực kém phát triển, quyền và lợi ích của người phụ nữ chưa được chú trọng, trong đó có quyền thừa kế. Kết quả của cuộc khảo sát chủ yếu phục vụ cho công tác báo cáo, đánh giá và đề ra các giải pháp nhằm bảo vệ quyền thừa kế của phụ nữ, làm sao để phụ nữ ở những khu vực kém phát triển trên thế giới có được quyền hưởng di sản thừa kế như những khu vực phát triển trên thế giới.
Bài viết: “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự một số nước trên thế giới” của tác giả Trần Thị Huệ [4] đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật tháng 10 năm 2006, Số 222, tr.78 - 83 đã nói về di sản trong một số BLDS của một số quốc gia như: Luật 6 Dân sự La Mã, BLDS của nước Cộng hòa Pháp, BLDS và Thương mại Thái Lan, BLDS Nhật Bản, BLDS của bang Quebec, Canada. Trong bài viết này, tác giả đưa ra kiến nghị đưa khái niệm di sản thừa kế vào trong BLDS Việt Nam thì mới có cơ sở lí luận để xem xét và xác định di sản thừa kế trên bình diện chung nhất. Sách “Inheritance in America from coloninal times to the present” (Thừa kế ở Hoa Kì từ thời thuộc địa đến hiện tại) (1987) của các tác giả Carole Shammas, Marylyn Salmon, Michel Dililin, Nxb Rutgers. Cuốn sách là sự tổng hợp các vấn đề có liên quan đến thừa kế theo quy định của pháp luật Hoa kì từ thời kì thuộc địa, cho thấy cái nhìn toàn diện về sự thay đổi trong quy định của pháp luật để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, nhất là đối với quốc gia có nhiều bang như Hoa Kì [28].