Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở 1. Khái quát chung về thừa kế quyền sử dụng đất ở 1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế Lịch sử xã hội đã chứng minh sự xuất hiện thừa kế là một tất yếu khách quan của tiến trình phát triển. Muốn tạo ra của cải vật chất và để thoả mãn nhu cầu của mình, con người phải lao động, phải tác động vào giới tự nhiên và biến đổi chúng.
Của cải dành được chưa tiêu dùng đến trước khi chết sẽ được để lại cho những người khác và thường là cho những người thân thích của người chết. Mỗi cá nhân khi còn sống ít nhiều đều có một số của cải riêng. Khi chết, của cải ấy sẽ để lại cho thân nhân. Việc chuyển và phân chia của cải của người chết như vậy gọi là thừa kế.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2006) của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản thì “thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”1 và Từ điển Luật học (2005) của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) do Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp xuất bản thì thừa kế là “sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống” 2. Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì thừa kế là sự dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang cho các cá nhân còn sống và các chủ thể khác. Ở thời điểm này, mặc dù xã hội chưa có sự xuất hiện của nhà nước, nhưng mầm mống của việc sở hữu cũng đã được hình thành. Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong một phạm vi, một hình thái xã hội nhất định…”; “nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nào cả”.
Việc sở hữu của con người trong xã hội công xã nguyên thuỷ chỉ đơn giản là việc có được những công cụ lao động và những vật phẩm tự nhiên, mà “chưa có sự phân biệt rõ rệt về khái niệm sở hữu đối với tư liệu sản xuất và sức lao động”3. 1 Viện ngôn ngữ học (1999), Từ điển tiếng Việt, Nxb.1077 2 Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2005), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, tr. Mác (1994), Toàn tập – tập 5, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.
521 6 Trong thời kì đầu của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chế độ quần hôn đã xuất hiện dẫn đến sự ra đời của các thị tộc, bộ lạc, tài sản có được thông qua lao động thuộc về thị tộc, bộ lạc đó. Lúc này, người phụ nữ có một vai trò hết sức quan trọng, có thể chi phối, quyết định mọi vấn đề trong đời sống xã hội. Ăng ghen khi nghiên cứu về vấn đề này đã đưa ra nhận xét: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ, người trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ”.
Sự ra đời của các văn bản pháp luật với các quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội, theo đó, quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể được quy định, trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng được điều chỉnh để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm các chủ thể đều bình đẳng về quyền và lợi ích. Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong quy định về quyền thừa kế. Thậm chí, sự khác nhau này được thể hiện trong từng giai đoạn khác nhau của cùng một chế độ xã hội nhất định. Điều này được lý giải bởi lẽ, chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của một nhà nước, đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định.
Từ những nội dung như đã phân tích ở trên có thể thấy, thừa kế và quyền thừa kế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Dưới góc độ lịch sử thì thừa kế có trước, phát sinh một cách tự nhiên, tất yếu và gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người. Khi một người chết đi và có tài sản để lại cho người còn sống làm phát sinh quan hệ thừa kế. Dưới góc độ này, việc để lại di sản thừa kế và việc hưởng di sản thừa kế hoàn toàn mang tính tự do ý chí cá nhân.
Phải đến khi xã hội có nhà nước và thực hiện việc điều chỉnh xã hội bằng pháp luật thì quyền thừa kế mới được ghi nhận và được điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật. Thật vậy, nhà nước là một tổ chức hết sức đặc biệt, được hình thành trong xã hội có giai cấp. Nói khác đi, nhà nước được sinh ra trong xã hội nhưng lại vượt lên trên xã hội, trấn áp mâu thuẫn và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội một cách có trật tự và đúng chuẩn mực. Công cụ hữu hiệu nhất được nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chính là pháp luật.
Bằng pháp luật, nhà nước điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang cho người còn sống; ghi nhận quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản của các chủ thể, 7 đồng thời tạo cơ chế để bảo đảm thực hiện những quyền này. Từ đây, thuật ngữ “quyền thừa kế” được ra đời. Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế. Bất cứ một chế định nào cũng là sự tập hợp của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan đến quan hệ xã hội nhất định.
Quyền thừa kế trong pháp luật dân sự là sự tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận những cách xử sự trên thực tế để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản, quyền sở hữu đối với tài sản từ người chết cho những người còn sống. Sự kiện thừa kế sẽ chỉ xảy ra khi thoả mãn hai điều kiện: có cái chết của cá nhân và cá nhân đó phải có tài sản riêng4. Người được hưởng thừa kế được thực hiện những quyền lợi nhất định nhưng đồng thời pháp luật cũng buộc người đó phải thực hiện những nghĩa vụ tương ứng. Cách quy định quyền và nghĩa vụ song song như vậy nhằm bảo đảm sự hài hoà về mặt lợi ích giữa các chủ thể và các quan hệ trong xã hội.
Để có được cái nhìn toàn diện về quyền thừa kế, cần tiếp cận khái niệm quyền thừa kế dưới cả góc độ khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho người còn sống. Nếu như thừa kế chỉ được hiểu là sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người còn sống thì quyền thừa kế đã ghi nhận quan hệ này được điều chỉnh bằng quy phạm pháp luật, tức là đã nâng thừa kế lên một bước nhận thức cao hơn mà ở đó vẫn tồn tại tự do ý chí của con người nhưng đã có sự can thiệp của pháp luật và bảo đảm quan hệ ấy tồn tại trong quỹ đạo mà pháp luật điều chỉnh. Về mặt chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn sống và quyền của công dân cũng như các chủ thể khác được nhận di sản theo sự định đoạt của người có tài sản (bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất định (thừa kế theo pháp luật)5.
Thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc là hai phương thức dịch chuyển di sản từ người đã chết sang các chủ thể khác, được ghi nhận về cách 4 Phùng Trung Tập (2005), Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án tiến sĩ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 87 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật dân sự tập 1, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 182 8 thức thực hiện cũng như được bảo đảm cơ chế thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nếu như thừa kế theo di chúc là thể hiện tự do ý chí, quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản của mình sau khi chết thì thừa kế theo pháp luật dựa trên quy định của pháp luật, nghĩa là theo ý chí của nhà nước, của nhà cầm quyền. Nhưng ý chí của nhà nước trong trường hợp này không phải vô căn cứ mà xuất phát từ việc phán đoán ý chí của người để lại di sản. Nó bảo đảm việc người có tài sản được để lại tài sản của họ sau khi chết đi cho những người thân thích nhất của mình, lẽ thông thường mà đa số người để lại di sản mong muốn. Nói cách khác, thừa kế theo pháp luật về bản chất là bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân hay nuôi dưỡng và chỉ những người có một trong các mối quan hệ này mới được hưởng thừa kế.
Khái niệm quyền sử dụng đất ở Nghiên cứu Luật Đất đai qua các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau cho đến nay, có thể khẳng định rằng, chưa có bất kỳ một văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa về đất ở, quyền sử dụng đất ở. Tuy nhiên, xuyên suốt các văn bản Luật Đất đai từ Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013 đều cho thấy, đất ở luôn được các Luật này xác định là một trong các loại đất phi nông nghiệp. Và tuỳ thuộc vào đất ở trong nhóm đất phi nông nghiệp ấy được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy hoạch ở nông thôn hay ở đô thị thì chúng trở thành “đất ở nông thôn” hay “đất ở đô thị”. Theo đó, đất ở (nông thôn hay đô thị) thì tiêu chí đầu tiên để nhận diện đó là đất ở, khác với loại đất khác đó là sử dụng với mục đích trước tiên là “để ở”.