Luận văn Thạc sĩ Y học: Tỷ lệ & CLCS trẻ thừa cân béo phì tiểu học Lạng Sơn

Nghiên cứu tỷ lệ thừa cân béo phì và chất lượng cuộc sống của học sinh tiểu học tại Lạng Sơn. Khám phá thực trạng, ảnh hưởng sức khỏe trẻ em.

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2018

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm thừa cân, béo phì

1.2. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới và Việt Nam

1.3. Chất lượng cuộc sống ở trẻ thừa cân, béo phì

1.4. Đặc điểm của đối tượng, địa điểm nghiên cứu

2. Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5. Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu

2.6. Thu thập số liệu và đánh giá

2.7. Các biện pháp khống chế sai số

2.8. Xử lý và phân tích số liệu

2.9. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Lạng Sơn năm 2018

3.2. Tình trạng chất lượng cuộc sống của trẻ thừa cân - béo phì lứa tuổi tiểu học

4. Chương 4: BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Lạng Sơn năm 2018

4.2. Chất lượng cuộc sống của trẻ thừa cân - béo phì lứa tuổi tiểu học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thừa cân béo phì ở học sinh Lạng Sơn

Trong những thập kỷ qua, béo phì ở trẻ em là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Nguyên nhân không chỉ do chế độ ăn uống thiếu khoa học mà còn do giảm hoạt động thể lực, stress, ô nhiễm môi trường và các vấn đề xã hội. Các nhà khoa học quan tâm đến béo phì trẻ em vì đó là mối đe dọa lâu dài đến sức khỏe, tuổi thọ và kéo dài tình trạng béo phì đến tuổi trưởng thành, làm gia tăng nguy cơ đối với các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, viêm xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm mỡ và một số bệnh ung thư. Béo phì ở trẻ em còn làm ngừng tăng trưởng sớm, dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng, học kém. Theo WHO năm 2003, có khoảng 17,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân béo phì (TCBP). Đến năm 2010, con số đó đã lên tới 43 triệu trẻ. Việt Nam là nước đang phát triển, tỉ lệ TCBP đang gia tăng. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2000 và 2010), tỷ lệ TCBP ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 2,5% lên 5,6%. Tuổi học đường là giai đoạn rất quan trọng, trẻ tăng trưởng nhanh về thể lực, phát triển giới tính, trưởng thành về tâm lý xã hội và hình thành nhân cách. Giai đoạn học sinh tiểu học là giai đoạn quan trọng để tích lũy các chất dinh dưỡng cho phát triển thể lực nhanh ở giai đoạn vị thành niên sau này. Khoảng 75% các trường hợp TCBP ở trẻ em tồn tại đến khi trưởng thành. Do đó, nghiên cứu về TCBP ở lứa tuổi này là hết sức cần thiết. Lạng Sơn là tỉnh được quy hoạch thành một nút trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, vùng Đông Bắc Việt Nam. Với đặc thù kinh tế vùng cửa khẩu, tốc độ đô thị hóa và phát triển nhanh của nền kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn đến lối sống và thói quen ăn uống của người dân. Sự du nhập thói quen ăn uống với nhiều loại thức ăn nhanh và giàu năng lượng, lối sống ít hoạt động thể lực đã dẫn đến tăng tỷ lệ TCBP. Trong bối cảnh kinh tế, xã hội như vậy, giả thiết nghiên cứu của chúng tôi là tỷ lệ TCBP ở tuổi học đường cao và CLCS của những đứa trẻ này thấp hơn đứa trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường.

1.1. Định nghĩa thừa cân béo phì và phương pháp đánh giá

Theo WHO, thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Trong nghiên cứu cộng đồng, thường sử dụng cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng TCBP. BMI (Body Mass Index) được sử dụng phổ biến: BMI = Cân nặng (kg) / (Chiều cao)2 (m). Thừa cân: khi BMI từ 85th - < 95 percentile. Béo phì: khi BMI ≥ 95th percentile. Từ khi chuẩn tăng trưởng mới của WHO được áp dụng, tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi được đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi.

1.2. Phân loại béo phì Các dạng và nguyên nhân thường gặp

Béo phì được phân loại theo nhiều tiêu chí. Theo sinh bệnh học, có béo phì đơn thuần (ngoại sinh) và béo phì bệnh lý (nội sinh) do các vấn đề bệnh lý liên quan. Các nguyên nhân nội tiết bao gồm suy giáp trạng, cường vỏ thượng thận, thiếu hormon tăng trưởng, hội chứng tăng hormon nang buồng trứng. Ngoài ra, còn có béo phì do các bệnh về não, sử dụng thuốc. Theo hình thái mô mỡ và tuổi bắt đầu, có béo phì bắt đầu từ nhỏ (tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ) và béo phì bắt đầu ở người lớn (tăng kích thước tế bào mỡ). Theo vùng mô mỡ, có béo phì bụng (béo trung tâm).

II. Thực trạng đáng báo động Tỷ lệ TCBP ở Lạng Sơn cao

Trên thế giới, thừa cânbéo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong. Năm 2010, có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TCBP. Việt Nam cũng đối mặt với tình trạng này, với tỷ lệ TCBP gia tăng nhanh chóng. Nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ thừa cân là 14.5% và béo phì là 11.9% ở học sinh tiểu học. Con số này thấp hơn so với một số thành phố lớn, nhưng vẫn đáng báo động và cần có biện pháp can thiệp kịp thời. Cần có một đánh giá toàn diện và liên tục về thực trạng này để có những giải pháp thích hợp.

2.1. So sánh tỷ lệ TCBP ở Lạng Sơn với các tỉnh thành khác

Tỷ lệ TCBPLạng Sơn thấp hơn so với các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng. Tuy nhiên, cao hơn so với một số tỉnh khác và so với tỷ lệ chung của Việt Nam. Sự khác biệt có thể do mức sống, lối sống, thói quen ăn uống và hoạt động thể lực khác nhau giữa các vùng miền.

2.2. Phân tích tỷ lệ TCBP theo giới tính và độ tuổi ở Lạng Sơn

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCBP ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ, phù hợp với nhiều nghiên cứu khác. Tỷ lệ này cũng thay đổi theo độ tuổi, cao nhất ở lứa tuổi 9 tuổi và thấp nhất ở 10 tuổi. Sự khác biệt có thể do yếu tố nội tiết, thói quen ăn uống và hoạt động thể lực khác nhau.

2.3. Yếu tố nguy cơ thừa cân béo phì Thói quen và môi trường sống

Nghiên cứu chỉ ra rằng kinh tế vùng cửa khẩu và tốc độ đô thị hóa của Lạng Sơn có thể ảnh hưởng đến thói quen ăn uống và lối sống của người dân, dẫn đến tăng tỷ lệ TCBP. Trẻ em thành phố có xu hướng ít hoạt động thể lực và tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh.

III. Hậu quả của thừa cân béo phì Ảnh hưởng tới CLCS

Nghiên cứu cho thấy trẻ TCBP có điểm CLCS thấp hơn so với trẻ không TCBP ở các lĩnh vực thể chất, cảm xúc, quan hệ bạn bè và học tập. Điều này cho thấy TCBP không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần và xã hội của trẻ. Do đó, cần có các biện pháp can thiệp toàn diện để cải thiện CLCS cho trẻ TCBP.

3.1. Ảnh hưởng đến thể chất Khó khăn trong vận động sức khỏe yếu

Trẻ TCBP gặp khó khăn hơn trong các hoạt động thể chất như đi lại, chạy nhảy, chơi thể thao và làm việc nhà. Trẻ cũng dễ bị đau nhức cơ thể và có sức khỏe yếu hơn. Điều này hạn chế khả năng tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và học tập, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện.

3.2. Tác động tiêu cực đến cảm xúc Tự ti lo lắng khó ngủ

Trẻ TCBP dễ cảm thấy sợ hãi, buồn bã, tức giận, lo lắng và khó ngủ hơn. Điều này ảnh hưởng đến tâm trạng và tinh thần của trẻ, có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý như tự ti, trầm cảm và rối loạn lo âu.

3.3. Mối quan hệ xã hội bị ảnh hưởng Bị trêu chọc cô lập

Trẻ TCBP dễ bị bạn bè trêu chọc, không muốn chơi cùng và cảm thấy khó thân thiện với bạn bè. Điều này dẫn đến cảm giác cô lập, thiếu tự tin và khó hòa nhập với cộng đồng.

IV. Giải pháp hiệu quả Phòng ngừa và can thiệp TCBP tại Lạng Sơn

Để phòng ngừa và can thiệp tình trạng TCBPhọc sinh tiểu học Lạng Sơn, cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng. Các biện pháp cần tập trung vào cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng cường hoạt động thể chất, giáo dục sức khỏe và xây dựng môi trường sống lành mạnh. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ và chương trình can thiệp phù hợp.

4.1. Cải thiện chế độ dinh dưỡng cho học sinh tiểu học Hướng dẫn

Cần giáo dục cho trẻ và phụ huynh về dinh dưỡng hợp lý, khuyến khích ăn nhiều rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và hạn chế đồ ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn, đồ ngọt và nước ngọt có gas. Cần đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ.

4.2. Tăng cường vận động thể chất cho học sinh Phương pháp hiệu quả

Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động thể thao, vui chơi ngoài trời và hạn chế thời gian xem tivi, chơi game, sử dụng máy tính. Cần tạo điều kiện cho trẻ vận động tại trường học và tại nhà. Cần tăng cường giáo dục thể chất trong chương trình học.

4.3. Giáo dục sức khỏe Nâng cao nhận thức về thừa cân béo phì

Cần tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, chiếu phim, phát tờ rơi để nâng cao nhận thức của trẻ, phụ huynh và giáo viên về TCBP, nguyên nhân, hậu quả và cách phòng ngừa. Cần trang bị cho trẻ kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ sức khỏe.

V. Ứng dụng thực tiễn Mô hình phòng chống TCBP tại trường học

Cần xây dựng các mô hình phòng chống TCBP hiệu quả tại trường học, bao gồm các hoạt động như: khám sức khỏe định kỳ, tư vấn dinh dưỡng, tổ chức các lớp học về dinh dưỡng và vận động, xây dựng thực đơn ăn uống lành mạnh, tăng cường hoạt động thể thao và vui chơi ngoài trời. Cần có sự tham gia của giáo viên, nhân viên y tế trường học, phụ huynh và học sinh.

5.1. Khám sức khỏe định kỳ và tư vấn dinh dưỡng cho học sinh

Thực hiện khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm tình trạng TCBP và các bệnh liên quan. Tư vấn dinh dưỡng cho trẻ và phụ huynh về chế độ ăn uống hợp lý và cách phòng ngừa TCBP.

5.2. Xây dựng thực đơn ăn uống lành mạnh tại trường học

Đảm bảo cung cấp các bữa ăn cân đối về dinh dưỡng, giàu rau xanh, trái cây và hạn chế đồ ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn, đồ ngọt và nước ngọt có gas. Khuyến khích sử dụng các thực phẩm tươi ngon, an toàn và có nguồn gốc rõ ràng.

5.3. Tăng cường hoạt động thể thao và vui chơi ngoài trời

Tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoạt động thể thao, vui chơi ngoài trời trong giờ học và giờ ra chơi. Tổ chức các câu lạc bộ thể thao, các giải đấu và các hoạt động ngoại khóa để khuyến khích trẻ vận động.

VI. Tương lai Nghiên cứu sâu hơn về TCBP và CLCS ở Lạng Sơn

Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về TCBP và CLCS ở học sinh tiểu học Lạng Sơn để hiểu rõ hơn về nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố ảnh hưởng. Đồng thời, cần đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp đã triển khai và đề xuất các giải pháp mới để cải thiện tình hình TCBP và nâng cao CLCS cho trẻ em.

6.1. Nghiên cứu về nhận thức của học sinh phụ huynh giáo viên

Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh, phụ huynh và giáo viên về TCBP, dinh dưỡng và vận động. Đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe.

6.2. Phân tích sâu hơn về các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng

Nghiên cứu về ảnh hưởng của thu nhập, trình độ học vấn, lối sống, môi trường sống và các yếu tố kinh tế - xã hội khác đến tình trạng TCBP và CLCS của trẻ em.

6.3. Đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp cộng đồng

Đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp tại trường học, cộng đồng và gia đình trong việc phòng ngừa và giảm thiểu TCBP, cải thiện CLCS cho trẻ em.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa Theo WHO thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng "nên có" so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [69],[70].

Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em Trong nghiên cứu cộng đồng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng TCBP. - Năm 1995 WHO đưa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em như sau: + Đối với trẻ dưới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi: Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều  90th percentile. + Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này. Cân nặng (kg) BMI = (Chiều cao)2 (m) - Thừa cân: khi BMI là < 85th đến < 95 th percentile.

- Béo phì: khi BMI  95th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều  90th percentile. download by : skknchat@gmail.com 4 - Từ khi chuẩn tăng trưởng mới của WHO được áp dụng, tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi được đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi. Theo WHO (2007), thừa cân béo phì được đánh giá như sau: Thừa cân khi BMI từ 85th - < 95 percentile. Béo phì khi BMI  95th percentile.

Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nam 2 - 20 tuổi download by : skknchat@gmail. Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nữ 2 - 20 tuổi download by : skknchat@gmail. Phân loại TCBP 1.Phân loại béo phì theo sinh bệnh học Béo phì đơn thuần (BP ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. Béo phì bệnh lý (BP nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên.

- Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần. - Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc utuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn.

- Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì. Người BP có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục. - Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh.

Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì [18], [68]. Phân loại béo phìtheo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại BP có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. - Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại BP có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại BP xuất hiện trước 5 tuổi.

download by : skknchat@gmail.com 7 - Béo phì xuất hiện muộn: Là loại BP xuất hiện sau 5 tuổi. Các giai đoạn thường xuất hiện BP là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác [20], [71]. Phân loại béo phìtheo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android): Là dạng BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng.

Một số phân loại béo phì khác Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoit liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì. Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ BP có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em [38], [75]. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới và Việt Nam. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm.

Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 điều tra cắt ngang về TCBP của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TCBP (trong đó 35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu trẻ em từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân. Tỷ lệ TCBP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% năm 1990 lên 6,7% vào năm 2010. WHO, năm 2012 ước tính đến năm 2020 tỷ lệ TCBP của trẻ em sẽ đạt tới 9,1% (khoảng 60 triệu trẻ em trên thế giới bị TCBP) [68], [69], [71]. Tại các nước phát triển đây thực sự là một vấn đề sức khoẻ trầm trọng.

Một cuộc khảo sát tại Úc năm 2008 cho thấy có 28,9% trẻ em từ 0 - 15 tuổi bị download by : skknchat@gmail. Nghiên cứu của Waters và cộng sự được tiến hành trên 2.685 trẻ từ 4 - 13 tuổi của 23 trường tiểu học tại thành phố Melbourne (Úc) cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 31% [62]. Theo thống kê mới nhất của “Hiệp hội quốc tế nghiên cứu béo phì” năm 2011 thì Hy Lạp là quốc gia có tỷ lệ trẻ em TCBP cao nhất là 37% ở trẻ gái và 45% ở trẻ trai. Hoa Kỳ đứng thứ 2 với 35,9% trẻ gái, 35% trẻ trai thừa cân, béo phì, tại một số quốc gia khác như Mexico, New Zealand, Chile, Anh, Canada, Hungary tỷ lệ TCBP ở trẻ em đều trên 25%.

Ở Canada tỷ lệ béo phì đã tăng gấp đôi thậm chí gấp 3 ở một số nhóm tuổi, năm 2007 - 2008 có gần 9% trẻ 6 - 17 tuổi bị béo phì. Béo phì có xu hướng gia tăng nhanh chóng,ở Mỹ năm 1970 có 5% trẻ ở lứa tuổi 2- 19 tuổi bị béo phì, đến năm 2008 thì đã có gần 17% trẻ ở lứa tuổi này bị béo phì [61], [63]. Tại Pháp, tỷ lệ trẻ em thừa cân đã tăng từ 3% năm 1965 lên 5% năm 1980, 16% năm 2000 và 17,8% năm 2006. Với tốc độ tăng này thì đến năm 2020 cứ 4 trẻ em thì có 1 em có nguy cơ bị thừa cân [79].

Ở Mexico41,8%, ở Brazil 22,1%, 22% ở Ấn Độ và 19,3% ởArgentina [75]. Tại Mexico, vào năm 2006 cuộc điều tra của Bộ Y tế thấy gần 10% trẻ 15 tuổi béo phì và 33% thừa cân hoặc béo phì. Ở Achentina, các nhà điều tra đã đo chiều cao và cân nặng của 1.688 trẻ em tuổi 10 - 11 tuổi, họ nhận thấy có 35% trẻ bị thừa cân hoặc béo phì và khoảng 4% trẻ bị nhẹ cân [70]. Dựa trên dữ liệu 2007 - 2008 từ 13 nước (Bỉ, Bulgaria, Cyprus,Cộng Hòa Sec, Ireland, Ý, Latvia, Lithuania, Malta, Na Uy, Bồ Đào Nha, Slovania, Thụy Điển) nhận thấy rằng 24% trẻ em châu Âu lứa tuổi 6 - 9 tuổi là thừa cân [41].

Đại dịch TCBP không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xu hướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ TCBP ở Châu Phi tăng từ 4% trong năm 1990 lên đến 8,5% trong năm 2010, còn tại các nước Châu Á mức tăng tương ứng là từ 3,2% đến 4,9% [69]. download by : skknchat@gmail.com 9 Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và Y tế. Nghiên cứu của Amin và cộng sự tại một số trường tiểu học ở Al Hassa, Ả Rập cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh là 14,2%.Tại Ấn Độ, nghiên cứu lớn nhất, gồm 40.000 trẻ ở lứa tuổi 8 -18 tuổi ở khu vực đô thị, thấy 14% trẻ bị thừa cân hoặc béo phì, ước tính khoảng 15 triệu trẻ ở thành thị bị thừa cân hoặc béo phì [52], [58]. Tại Nhật Bản (1996 -2000) tỷ lệ TCBP ở lứa tuổi 6 - 14 tuổi là 16,2% (nam) và 14,3% (nữ).

Tại Trung Quốc, trong vòng 20 năm qua, các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng đáng kể trong béo phì ở thanh thiếu niên 8 -18 tuổi: Năm 1985, chỉ có 2% trẻ trai và 1% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì. Đến năm 2005, có khoảng 14% trẻ trai và 9% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì (có tổng 21 triệu trẻ). Một nghiên cứu tổng hợp khác của Trung Quốc năm 2009 về TCBP trong độ tuổi từ 6 đến 12 cho thấy tỷ lệ béo phì ở lứa tuổi này là 10,2% [45], [46], [71]. Tại Hàn Quốc năm 2012, tỉ lệ TCBP ở trẻ 2-5 tuổi là 12,2% và trẻ vị thành niên là 18% [19].

Ở các nước ASEAN như Singapore, béo phì học sinh tiểu học là 9% ở nam và 8% là nữ vào năm 1984, năm 1989 tỷ lệ này là 14,5% và 10,4%; Còn tại Malaysia tỷ lệ thừa cân, béo phì trong độ tuổi 9 đến 12 là 17,9% [60], [74]. Những dữ liệu trên cho thấy tỷ lệ TCBP đang gia tăng trên toàn cầu. Với xu hướng và tốc độ gia tăng TCBP như vậy thì đây là thách thức lớn đối với ngành y tế, cần có nỗ lực rất lớn mới có thể góp phần giải quyết được vấn đề sức khỏe này. Tỷ lệ thừa, cân béo phì tại Việt Nam Tỷ lệ TCBP đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng của thế kỷ XXI.

Trước năm 2000, hầu như chưa có TCBP ở trẻ em dưới 5 tuổi, sau 5 năm tỷ lệ TCBP ở trẻ em dưới 5 tuổi chung của cả nước đã là 1,7%. Sau 10 năm (tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2009 – 2010), tỷlệ TCBP ở download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ