Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa Theo WHO thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng "nên có" so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [69],[70].
Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em Trong nghiên cứu cộng đồng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng TCBP. - Năm 1995 WHO đưa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em như sau: + Đối với trẻ dưới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi: Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile. + Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này. Cân nặng (kg) BMI = (Chiều cao)2 (m) - Thừa cân: khi BMI là < 85th đến < 95 th percentile.
- Béo phì: khi BMI 95th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile. download by : skknchat@gmail.com 4 - Từ khi chuẩn tăng trưởng mới của WHO được áp dụng, tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi được đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi. Theo WHO (2007), thừa cân béo phì được đánh giá như sau: Thừa cân khi BMI từ 85th - < 95 percentile. Béo phì khi BMI 95th percentile.
Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nam 2 - 20 tuổi download by : skknchat@gmail. Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nữ 2 - 20 tuổi download by : skknchat@gmail. Phân loại TCBP 1.Phân loại béo phì theo sinh bệnh học Béo phì đơn thuần (BP ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. Béo phì bệnh lý (BP nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên.
- Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần. - Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc utuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn.
- Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì. Người BP có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục. - Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh.
Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì [18], [68]. Phân loại béo phìtheo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại BP có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. - Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại BP có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại BP xuất hiện trước 5 tuổi.
download by : skknchat@gmail.com 7 - Béo phì xuất hiện muộn: Là loại BP xuất hiện sau 5 tuổi. Các giai đoạn thường xuất hiện BP là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác [20], [71]. Phân loại béo phìtheo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android): Là dạng BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng.
Một số phân loại béo phì khác Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoit liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì. Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ BP có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em [38], [75]. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới và Việt Nam. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm.
Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 điều tra cắt ngang về TCBP của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TCBP (trong đó 35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu trẻ em từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân. Tỷ lệ TCBP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% năm 1990 lên 6,7% vào năm 2010. WHO, năm 2012 ước tính đến năm 2020 tỷ lệ TCBP của trẻ em sẽ đạt tới 9,1% (khoảng 60 triệu trẻ em trên thế giới bị TCBP) [68], [69], [71]. Tại các nước phát triển đây thực sự là một vấn đề sức khoẻ trầm trọng.
Một cuộc khảo sát tại Úc năm 2008 cho thấy có 28,9% trẻ em từ 0 - 15 tuổi bị download by : skknchat@gmail. Nghiên cứu của Waters và cộng sự được tiến hành trên 2.685 trẻ từ 4 - 13 tuổi của 23 trường tiểu học tại thành phố Melbourne (Úc) cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 31% [62]. Theo thống kê mới nhất của “Hiệp hội quốc tế nghiên cứu béo phì” năm 2011 thì Hy Lạp là quốc gia có tỷ lệ trẻ em TCBP cao nhất là 37% ở trẻ gái và 45% ở trẻ trai. Hoa Kỳ đứng thứ 2 với 35,9% trẻ gái, 35% trẻ trai thừa cân, béo phì, tại một số quốc gia khác như Mexico, New Zealand, Chile, Anh, Canada, Hungary tỷ lệ TCBP ở trẻ em đều trên 25%.
Ở Canada tỷ lệ béo phì đã tăng gấp đôi thậm chí gấp 3 ở một số nhóm tuổi, năm 2007 - 2008 có gần 9% trẻ 6 - 17 tuổi bị béo phì. Béo phì có xu hướng gia tăng nhanh chóng,ở Mỹ năm 1970 có 5% trẻ ở lứa tuổi 2- 19 tuổi bị béo phì, đến năm 2008 thì đã có gần 17% trẻ ở lứa tuổi này bị béo phì [61], [63]. Tại Pháp, tỷ lệ trẻ em thừa cân đã tăng từ 3% năm 1965 lên 5% năm 1980, 16% năm 2000 và 17,8% năm 2006. Với tốc độ tăng này thì đến năm 2020 cứ 4 trẻ em thì có 1 em có nguy cơ bị thừa cân [79].
Ở Mexico41,8%, ở Brazil 22,1%, 22% ở Ấn Độ và 19,3% ởArgentina [75]. Tại Mexico, vào năm 2006 cuộc điều tra của Bộ Y tế thấy gần 10% trẻ 15 tuổi béo phì và 33% thừa cân hoặc béo phì. Ở Achentina, các nhà điều tra đã đo chiều cao và cân nặng của 1.688 trẻ em tuổi 10 - 11 tuổi, họ nhận thấy có 35% trẻ bị thừa cân hoặc béo phì và khoảng 4% trẻ bị nhẹ cân [70]. Dựa trên dữ liệu 2007 - 2008 từ 13 nước (Bỉ, Bulgaria, Cyprus,Cộng Hòa Sec, Ireland, Ý, Latvia, Lithuania, Malta, Na Uy, Bồ Đào Nha, Slovania, Thụy Điển) nhận thấy rằng 24% trẻ em châu Âu lứa tuổi 6 - 9 tuổi là thừa cân [41].
Đại dịch TCBP không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xu hướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ TCBP ở Châu Phi tăng từ 4% trong năm 1990 lên đến 8,5% trong năm 2010, còn tại các nước Châu Á mức tăng tương ứng là từ 3,2% đến 4,9% [69]. download by : skknchat@gmail.com 9 Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và Y tế. Nghiên cứu của Amin và cộng sự tại một số trường tiểu học ở Al Hassa, Ả Rập cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh là 14,2%.Tại Ấn Độ, nghiên cứu lớn nhất, gồm 40.000 trẻ ở lứa tuổi 8 -18 tuổi ở khu vực đô thị, thấy 14% trẻ bị thừa cân hoặc béo phì, ước tính khoảng 15 triệu trẻ ở thành thị bị thừa cân hoặc béo phì [52], [58]. Tại Nhật Bản (1996 -2000) tỷ lệ TCBP ở lứa tuổi 6 - 14 tuổi là 16,2% (nam) và 14,3% (nữ).
Tại Trung Quốc, trong vòng 20 năm qua, các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng đáng kể trong béo phì ở thanh thiếu niên 8 -18 tuổi: Năm 1985, chỉ có 2% trẻ trai và 1% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì. Đến năm 2005, có khoảng 14% trẻ trai và 9% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì (có tổng 21 triệu trẻ). Một nghiên cứu tổng hợp khác của Trung Quốc năm 2009 về TCBP trong độ tuổi từ 6 đến 12 cho thấy tỷ lệ béo phì ở lứa tuổi này là 10,2% [45], [46], [71]. Tại Hàn Quốc năm 2012, tỉ lệ TCBP ở trẻ 2-5 tuổi là 12,2% và trẻ vị thành niên là 18% [19].
Ở các nước ASEAN như Singapore, béo phì học sinh tiểu học là 9% ở nam và 8% là nữ vào năm 1984, năm 1989 tỷ lệ này là 14,5% và 10,4%; Còn tại Malaysia tỷ lệ thừa cân, béo phì trong độ tuổi 9 đến 12 là 17,9% [60], [74]. Những dữ liệu trên cho thấy tỷ lệ TCBP đang gia tăng trên toàn cầu. Với xu hướng và tốc độ gia tăng TCBP như vậy thì đây là thách thức lớn đối với ngành y tế, cần có nỗ lực rất lớn mới có thể góp phần giải quyết được vấn đề sức khỏe này. Tỷ lệ thừa, cân béo phì tại Việt Nam Tỷ lệ TCBP đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng của thế kỷ XXI.
Trước năm 2000, hầu như chưa có TCBP ở trẻ em dưới 5 tuổi, sau 5 năm tỷ lệ TCBP ở trẻ em dưới 5 tuổi chung của cả nước đã là 1,7%. Sau 10 năm (tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2009 – 2010), tỷlệ TCBP ở download by : skknchat@gmail.