lời mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu 3 Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện thủ hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại công ty cổ phần thƣơng mại và tƣ vấn VMD Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại công ty cổ phần thƣơng mại và tƣ vấn VMD 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1.1 Những vấn đề chung về hàng hóa nhập khẩu 1.1 Khái niệm và đặc điểm về hàng hóa nhập khẩu Khái niệm Theo chủ nghĩa Mác-Lênin: “Hàng hóa là sản phẩm của lao động nó có thể thỏa mãn nhu cầu nhất định của con người thông qua trao đổi hay buôn bán”. Theo Điều 4, Luật Hải quan 2014: “ Hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan”. Theo luật giao thông đƣờng bộ: “Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vất liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, động vật sống và các động sản khác được vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ”. Theo Wikipedia: “Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới.
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài”. Theo Điều 28 Luật Thƣơng mại Việt Nam 2005, “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Có thể thấy định nghĩa hàng hóa đƣợc nhìn nhận và xem xét dƣới nhiều góc độ đã có sự khác nhau nhất định. Nhƣ vậy ta có thể khái quát hàng hóa nhập khẩu đƣợc hiểu là động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng 5 hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam đƣợc đƣa vào lãnh thổ Việt Nam từ nƣớc ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích thƣơng mại, tức là nhằm mục đích kiếm tìm lợi nhuận. Đặc điểm Với cách tiếp cận hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích lợi nhuận đƣợc thực hiện thông qua hợp đồng mua bán giữa bên nhập khẩu và bên xuất khẩu. Hàng hóa nhập khẩu kinh doanh có những đặc điểm sau: Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu là động sản có tên gọi, mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Mỗi loại hàng hóa nói chung và hàng hóa nhập khẩu kinh doanh nói riêng sẽ có một mã số hàng hóa riêng biệt không trùng lặp để xác định thuế suất, phục vụ kiểm tra, giám sát hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan.
Thứ hai, hàng hóa nhập khẩu phải đƣợc di chuyển qua biên giới quốc gia thông qua hợp đồng mua bán quốc tế. Hàng hóa nhập khẩu phải vào Việt Nam từ nƣớc ngoài hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu ngoại quan riêng theo quy định của pháp luật dựa theo hợp đồng thƣơng mại phục vụ lợi ích kiếm lời của thƣơng nhân. Thứ ba, hàng hóa thuộc quyền sở hữu của bên nhập khẩu, nghĩa là bên nhập khẩu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với hàng hóa và có nghĩa vụ thanh toán cho bên xuất khẩu. Hàng hóa nhập khẩu kinh doanh thuộc loại hàng hóa mậu dịch.
Quyền sở hữu gắn liền với nghĩa vụ thanh toán của bên nhập khẩu. Thứ tư, hàng hóa đƣợc tiêu thụ ở nƣớc nhập khẩu, có nghĩa là hàng hóa đƣợc đƣa vào tiêu thụ hoặc đƣa vào sản xuất ở nƣớc nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu phải đƣợc tiêu thụ ở nƣớc nhập khẩu. Không đƣợc xuất bán sang nƣớc khác kể cả nhằm mục đích kinh doanh.
Thứ năm, hàng hóa nhập khẩu kinh doanh gắn liền với việc tìm kiếm lợi nhuận của thƣơng nhân. Đây là điểm cơ bản của mã loại hình này. Hàng 6 hóa nhập khẩu nhằm mục đích sinh lời, mua đứt bán đoạn và hai bên xuất khẩu và nhập khẩu không ràng buộc nhau sau khi đã thanh toán. Thứ sáu, hàng hóa nhập khẩu kinh doanh là đối tƣợng phải nộp thế trừ những trƣờng hợp đƣợc pháp luật miễn thuế hoặc không thu thuế.2 Phân loại hàng hóa nhập khẩu Căn cứ vào mục đích nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu đƣợc phân thành hai nhóm chính: - Hàng hóa nhập khẩu không nhằm mục đích kinh doanh (còn gọi là hàng hóa nhập khẩu phi thƣơng mại hoặc trƣớc đây gọi là hàng hóa nhập khẩu phi mậu dịch).
Hàng hóa nhập khẩu không nhằm mục đích kinh doanh là hàng hóa đƣợc đƣa vào lãnh thổ hải quan Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trong lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật không nhằm mục tiêu lợi nhuận (không nhằm mục đích sinh lời) mà chủ yếu nhằm mục đích hỗ trợ, từ thiện, tƣơng thân tƣơng ái hoặc nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của tổ chức, cá nhân. Hay nói cách khác, hàng hóa nhập khẩu không nhằm mục đích kinh doanh là hàng hóa đƣợc đƣa vào lãnh thổ hải quan nhƣng không gắn với hoạt động kinh doanh của các thƣơng nhân. Hàng hóa nhập khẩu không nhằm mục đích kinh doanh bao gồm: + Quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài gửi cho tổ chức, cá nhân Việt Nam. + Tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân.
+ Hành lý cá nhân của hành khách nhập cảnh. + Hàng hóa của cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam và những ngƣời làm việc tại các cơ quan, tổ chức này. + Hàng hóa viện trợ nhân đạo. + Hàng mẫu không thanh toán.
7 + Dụng cụ nghề nghiệp, phƣơng tiện làm việc tạm nhập của cơ quan, tổ chức, của ngƣời nhập cảnh có thời hạn. Hàng hóa nhập khẩu kinh doanh (còn gọi là hàng hóa nhập khẩu thƣơng mại hoặc trƣớc đây gọi là hàng hóa nhập khẩu mậu dịch). Hàng hóa nhập khẩu kinh doanh là hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Hay nói cách khác là hàng hóa đƣợc đƣa vào lãnh thổ hải quan Việt Nam để thực hiện kinh doanh hoặc thực hiện các hoạt động thƣơng mại của các thƣơng nhân.
Hoạt động thƣơng mại của các thƣơng nhân gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ thƣơng mại; đầu tƣ; xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động thƣơng mại khác nhằm mục đích sinh lợi. Với cách tiếp cận hàng hóa nhập khẩu kinh doanh là hàng hóa đƣợc đƣa vào lãnh thổ hải quan để nhằm mục đích thực hiện các hoạt động thƣơng mại của các thƣơng nhân, hàng hóa nhập khẩu kinh doanh gồm nhiều loại khác nhau tƣơng ứng với từng hoạt động/hành vi thƣơng mại cụ thể, đó là: + Hàng hóa nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa + Hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho hoạt động cung ứng dịch vụ thƣơng mại nhƣ gia công hàng hóa, quá cảnh hàng hóa, trung chuyển hàng hóa,. + Hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho các hoạt động đầu tƣ. + Hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho các hoạt động xúc tiến thƣơng mại nhƣ tham dự hội chợ triển lãm, trƣng bày giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, khuyến mai,.
+ Hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho các hoạt động thƣơng mại khác. Nếu tiếp cận theo nghĩa hẹp thì hàng hóa nhập khẩu kinh doanh chỉ đơn thuần là hàng hóa nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Với cách tiếp cận này, hàng hóa nhập khẩu kinh doanh gồm: + Hàng hóa nhập kinh doanh; 8 + Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất; + Hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu; + Hàng hóa là nguyên liệu, vật tƣ nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu; + Hàng hóa kinh doanh nhập khẩu của cƣ dân biên giới; + v. Mỗi một loại hàng hóa nhập khẩu đó có các tính chất và đặc điểm khác nhau, do vậy, thủ tục hải quan và chế độ kiểm tra, giám sát hải quan cũng có những điểm khác nhau.2 Lý luận chung về thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu 1.1 Khái niệm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ xuất bản 2005 giải thích, hải quan nghĩa là: “việc kiểm soát và đánh thuế hàng hoá xuất nhập cảnh”.
Theo Wikipedia: “Hải quan là một ngành có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên gi ới.; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” Theo định nghĩa của Công ƣớc Kyoto: “Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan Hải Quan và những người có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật Hải Quan” Theo quy định của Luật Hải quan năm 2014, tại khoản 23, điều 4: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”. 9 Nhƣ vậy, thủ tục hải quan đƣợc hiểu là nội dung các công việc mà ngƣời làm thủ tục hải quan và nhân viên hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với đối tƣợng làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá cảnh. Thủ tục hải quan là thủ tục hành chính, đƣợc thực hiện chủ yếu và trực tiếp bởi ngƣời khai hải quan và công chức hải quan. Căn cứ vào phƣơng thức thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục hải quan đƣợc chia thành: - Thủ tục hải quan truyền thống (thủ tục hải quan thủ công): là thủ tục hải quan đƣợc thực hiện bằng phƣơng thức thủ công, khai hải quan bằng giấy và tiếp nhận xử lý trực tiếp bởi công chức hải quan theo quy định của pháp luật.