Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.Khái niệm về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đầu tư thành lập doanh nghiệp đang là xu thế chung của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Điều này xuất phát từ tầm quan trọng của các doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ: doanh nghiệp là đơn vị sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu chủ yếu của toàn xã hội. Do vây, để hiểu được khái niệm doanh nghiệp một cách toàn diện và sâu sắc nhất, ta phải xem xét từ góc độ kinh tế cũng như từ góc độ pháp lý.
Ở góc độ kinh tế, doanh nghiệp là một loại hình tổ chức nên mang những đặc điểm chung như bao gồm thành viên, có một cấu trúc rõ ràng để các thành viên thực hiện nhiệm vụ công việc của mình. Có thể nói đặc trưng riêng có của doanh nghiệp để phân biệt doanh nghiệp với các đơn vị khác như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội… chính là mục tiêu mà doanh nghiệp luôn hướng tới đó là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “doanh nghiệp” được pháp luật nhìn nhận với những đặc trưng riêng. Theo Luật Công ty năm 1990, doanh nghiệp được định nghĩa như là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Theo định nghĩa này, tất cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh sẽ được công nhận là doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Công ty năm 1990 lại chưa thể hiện được những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp cho đến khi Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và mới 7 nhất là Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành và đưa ra một khái niệm doanh nghiệp một cách cụ thể và đầy đủ hơn: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm đăng ký doanh nghiệp Có thể nói rằng, sự hình thành của các doanh nghiệp là một quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế. Từ ý tưởng thành lập doanh nghiệp để thực hiện hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh cần tiến hành hoạt động đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thành lập hợp pháp doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp (hay có thể nói là đăng ký thành lập doanh nghiệp) chính là việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổ chức kinh doanh. Người thành lập doanh nghiệp trước hết phải chuẩn bị trụ sở, trang thiết bị phục vụ kinh doanh, đội ngũ nhân công, người quản lý… Tại Việt Nam, khái niệm đăng ký doanh nghiệp được ghi nhận đầu tiên trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, khái niệm đăng ký doanh nghiệp cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ quản lý nhà nước, một trong những biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế đó là đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong những hoạt động quản lý đầu tiên của nhà nước đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo khi doanh nghiệp đi vào hoạt động. Thông qua việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sẽ tiếp nhận được các 8 thông tin cần thiết về một doanh nghiệp, từ đó việc quản lý các doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn. Dưới góc độ kinh tế, đăng ký doanh nghiệp là hoạt động khởi tạo doanh nghiệp của chủ đầu tư bao gồm các hoạt động đầu tiên tạo cơ sở vật chất cần thiết để doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động kinh doanh của mình và các thủ tục pháp lý cần thiết để khai sinh hợp pháp ra doanh nghiệp đó. Ở dưới góc độ pháp lý, đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, mức độ cải cách hành chính và thái độ của Nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh, mà thủ tục pháp lý này có tính đơn giản hay phức tạp khác nhau. Nói cách khác, đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định để thành lập hợp pháp doanh nghiệp. Với tư cách là một chế định pháp lý, đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng hợp các quy định do nhà nước ban hành, quản lý sự xuất hiện trên thị trường của một chủ thể kinh doanh mới. Theo đó, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được Nhà nước công nhận và bảo hộ bằng việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Đây là thủ tục pháp lý bắt buộc chung đối với tất cả các chủ thể khi tiến hành hoạt động kinh doanh, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận tư cách và khả năng kinh doanh cho chủ thể kinh doanh, đồng thời khẳng định tư cách pháp lý và xác nhận địa vị pháp lý cho các chủ thể này. Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp. Như đã nói ở trên, đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục “khai sinh” ra doanh nghiệp. Hay nói cách khác, tư cách của doanh nghiệp chỉ được thừa 9 nhận và làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với doanh nghiệp khi thông qua việc đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước: việc quy định về đăng ký thành lập doanh nghiệp là thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng được thể hiện qua việc quy định việc đăng ký thành lập doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước sẽ thực hiện chức năng quản lý cơ cấu các thành phần kinh tế xã hội, số lượng, hình thức, ngành nghề kinh doanh dựa trên địa bàn, kiểm soát các hoạt động kinh doanh theo đường lối đã đề ra. Trên cơ sở đó Nhà nước sẽ nắm bắt được thực trạng kinh tế của từng địa phương, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề để từ đó có những chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích hoặc điều chỉnh phù hợp, giúp Nhà nước can thiệp một cách kịp thời và có mức độ vào nền kinh tế, bảo đảm có được một nền kinh tế hiện đại nhưng không xã rời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Ngoài ra, thông qua hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp, Nhà nước sẽ thu đúng và đủ thuế.
Bởi khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng là thời điểm làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đối với chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp: sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp được thừa nhận về mặt pháp lý, tức doanh nghiệp đã được xác lập tư cách chủ thể. Do đó, doanh nghiệp có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh như đã đăng ký dưới sự bảo hộ của pháp luật. Đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng chính là cơ sở pháp lý chắc chắn nhất để một doanh nghiệp yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích cũng như tài sản hợp pháp của mình, đồng thời bảo đảm tính pháp lý đối với các hoạt động của mình trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bởi hiện nay phần lớn các doanh 10 nghiệp không muốn thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan Nhà nước. Nhưng khi các chủ doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo yêu cầu của Nhà nước đồng nghĩa với việc giúp cho những dự án kinh doanh mà doanh nghiệp đã hoạch định sẽ có tính khả thi cao hơn. Về mặt xã hội: đăng ký thành lập doanh nghiệp còn giúp chủ thể doanh nghiệp thể hiện sự công khai hóa trước công chúng, khẳng định được việc thành lập của họ là có thực, tránh tình trạng lừa đảo, gây tổn hại tới lợi ích của bên thứ ba. Thông qua việc giám sát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc phá sản của nhà nước cũng góp phần ngăn ngừa hoạt động kinh doanh trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể khác trong trường hợp phá sản hoặc giải thể.
Đăng ký thành lập doanh nghiệp còn có ý nghĩa kinh tế, khi bước vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vừa có tư cách là một thành viên trong cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp còn góp phần tác động vào sự phát triển kinh tế của toàn xã hội. Như vậy, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ bảo đảm quyền lợi của bản thân các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với việc bảo đảm trật tự quản lý Nhà nước và bảo vệ lợi ích cho các chủ thể khác trong xã hội. Chính vì vậy, đăng ký thành lập doanh nghiệp vừa là một nhu cầu tất yếu, vừa đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay. Những điều kiện đăng ký doanh nghiệp 1.
Điều kiện về chủ thể Một trong những quyền tự do cơ bản của công dân và được pháp luật bảo vệ là quyền thành lập doanh nghiệp, Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể 11 trong xã hội đều có quyền thành lập doanh nghiệp. Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp, việc thành lập, đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, đây là quyền của cá nhân và tổ chức được Nhà nước bảo hộ. Pháp luật doanh nghiệp nghiêm cấm các cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà cho người thành lập doanh nghiệp 1. Luật doanh nghiệp 2005 đã có sự mở rộng chủ thể thành lập Doanh nghiệp là tổ chức, cá nhận nước ngoài và họ có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam 2; đồng thời họ cũng có quyền góp vốn, mua cổ phần đối với các công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty Hợp danh và công ty Cổ phần3.