CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm nguồn nhân lực Có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực cụ thể như sau: Theo Nicholas Henry trong Public Administration and Public Affairs thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới”. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực với các yếu tố thể chất và tinh thần tạo nên năng lực và sức mạnh phục vụ cho sự phát triển của tổ chức nói riêng và của các quốc gia, khu vực và thế giới nói chung.
Milkovich and John W. Boudreau trong Human Resources Manegement thì “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công và đạt được mục tiêu của tổ chức”. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn nhân lực và các nhân tố cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực. Theo giáo trình Quản trị Nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế Quốc dân do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên năm 2004 thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [3, trang 8].
Cách đinh nghĩa này xem xét nguồn nhân lực trong phạm vi của một tổ chức, chỉ số lượng các lao động đang làm việc trong tổ chức đó. Theo Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội năm 2006 thì “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh Luan van 8 nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Theo giáo trình Quản trị Nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế Quốc dân do Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh chủ biên năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [1, trang 12]. Quan điểm này nhìn nhận nguồn nhân lực một cách khá toàn diện trên cả hai mặt số lượng và chất lượng gắn với một thời điểm cụ thể nhất định, đồng thời khẳng định sự đóng góp của nguồn nhân lực vào sự phát triển của xã hội.
Vậy tựu chung lại Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt; luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn”. Theo cách tiếp cận từ cấu trúc hệ thống giáo dục, nguồn nhân lực chất lượng cao “bao gồm những nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng; nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng”.
Điều đó không có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao đồng nghĩa với học vị cao. Vì bằng cấp là tiêu chí dễ sử dụng nhất trong đánh giá chất lượng của nhân lực và những thông tin khác thường không sẵn có. Trên thực tế, trình độ cao được kiểm định bởi mức độ phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động, trong đó khả năng thích ứng và các kỹ năng được đánh Luan van 9 giá từ góc nhìn của các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội.
Như vậy thì nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xem xét trên tất cả các yếu tố hình thành chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực. Để nhìn nhận, đánh giá nguồn nhân lực có phải là nguồn nhân lực chất lượng cao hay không cần phải đánh giá toàn diện trên tất cả các khía cạnh và đảm bảo gắn với kết quả lao động. Tóm lại, nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ những người lao động cụ thể, có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể và theo tiêu thức phân loại về trình độ chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của môi trường sản xuất kinh doanh; có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt; có khả năng vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức và kỹ năng được đào tạo vào quá trình làm việc nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Thường nhân lực chất lượng cao có thể được đảm nhận được các vị trí quan trọng trong các công ty như giám đốc, trưởng các phòng ban trong công ty hoặc là các vị trí chuyên gia chuyên môn.
Tại những vị trí như vậy thì những nhân lực chất lượng cao sẽ có khả năng phát huy hết những thế mạnh của mình tạo điều kiện cho việc phát triển bản thân và công việc. Khái niệm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Thu hút có nghĩa là lôi cuốn, làm dồn mọi sự chú ý vào. Dưới góc độ vĩ mô Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là tổng thể các cơ chế, chính sách của một tổ chức, địa phương, quốc gia nhằm tạo sự hấp dẫn, kêu gọi, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt (cả điều kiện vật chất và tinh thần) để người có năng lực, trình độ cao, phẩm chất tốt vào làm việc. Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải luôn kết hợp chặt chẽ với việc đào tạo, thăng tiến, đãi ngộ.
Dưới góc độ doanh nghiệp, Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là tạo sức hấp dẫn và sự lôi cuốn thông qua tổng thể các cơ chế, chính sách về quản lý, phát Luan van 10 triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cả vật chất và tinh thần để người có trình độ cao, năng lực vượt trội, phẩm chất đạo đức tốt vào làm việc. Các cơ chế, chính sách mà doanh nghiệp thường sử dụng đó là chính sách về tuyển dụng như sử dụng nhiều kênh để tìm kiếm ứng viên tài năng, chuẩn hóa quy trình tuyển dụng để sàng lọc, lựa chọn được các ứng viên phù hợp.; chính sách trọng dụng, tạo cơ hội phát triển, vạch ra lộ trình thăng tiến rõ ràng; chính sách về đãi ngộ và phúc lợi như xây dựng một hệ thống tiền lương cạnh tranh, phù hợp với quan hệ tiền lương, tiền công trên thị trường, sẵn sàng trả lương vượt ngoài khung lương cho các vị trí quan trọng và áp dụng các chính sách thưởng, ưu đãi hấp dẫn như thưởng cổ phiếu. để thu hút nhân tài; chính sách về đào tạo bám sát yêu cầu công việc, nâng cao năng lực, trình độ cho người lao động; chính sách về xây dựng môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp, thân thiện. Việc phối hợp các chính sách trên tạo ra tổng thể các điều kiện thuận lợi, hấp dẫn những nhân lực có chất lượng cao vào làm việc tại doanh nghiệp.
Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là những kiến thức, sự hiểu biết, kỹ năng thực hành cần thiết để thực hiện những yêu cầu của vị trí công việc đang đảm nhận trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp của người lao động. Đây cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi lẽ trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh; sáng tạo ra những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp đó nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế cho thấy, ở phần lớn các doanh nghiệp người lao động có trình độ chuyên môn cao thì doanh nghiệp đó phát triển nhanh.
- Kinh nghiệm công tác Luan van 11 Là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ của nguồn nhân lực. Kinh nghiệm là những bài học mà người lao động tích lũy được trong quá trình làm việc khiến việc vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhuần nhuyễn hơn và nhờ đó nâng cao hiệu quả công việc. - Khả năng xử lý thực tế Phản ánh quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm trong lao động sản xuất từ thời điểm người lao động được đào tạo cơ bản cho tới khi người lao động vận dụng được kiến thức trang bị cho công việc được phân công. Khả năng xử lý thực tế dựa trên trình độ và kinh nghiệm làm việc của người lao động.
- Năng lực tư duy sáng tạo cao Những hoạt động tư duy có sáng kiến gọi là tư duy sáng tạo. Đặc điểm lớn nhất của tư duy sáng tạo là tính đổi mới, tức là tính khác lạ, mới mẻ. Những thay đổi nhanh chóng của thời đại ngày nay đặt người lao động trước yêu cầu rằng các vấn đề phải được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả. Và sáng tạo chính là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.