Tổng quan nghiên cứu

Năm 2010, ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đạt doanh thu 1.845 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2009 và đón hơn 8,169 triệu lượt du khách, trong đó có 320.000 lượt khách quốc tế. Dù vậy, bức tranh kinh tế du lịch của địa phương đang đối mặt với bài toán nan giải: sự chênh lệch lớn giữa quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến cuối năm 2010, toàn tỉnh đã thu hút 171 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký 12,468 tỷ USD từ nguồn vốn FDI và 36.406,51 tỷ đồng từ nguồn vốn trong nước. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn thực hiện của các dự án FDI ngành du lịch chỉ đạt mức khiêm tốn dưới 3%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện thực trạng, các rào cản cản trở dòng vốn FDI giải ngân vào ngành du lịch, từ đó tìm ra giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về FDI trong dịch vụ du lịch, khảo sát thực tiễn thu hút FDI tại Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2010, và thiết lập các nhóm giải pháp chiến lược đến năm 2015, tầm nhìn 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn tăng tốc hội nhập kinh tế quốc tế hậu gia nhập WTO. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 12% đến 15%/năm, trong đó khu vực FDI đóng góp từ 25% đến 30% GDP toàn tỉnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa chính sách ưu đãi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất du lịch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tăng trưởng Harrod - Domar, trong đó mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào tổng quy mô vốn đầu tư xã hội và hệ số sinh thái vốn ICOR. Để thúc đẩy ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, việc gia tăng dòng vốn FDI kết hợp với hạ thấp chỉ số ICOR là yêu cầu tiên quyết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn.

Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận khái niệm FDI theo định chuẩn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF BPM5) và Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, xác định FDI là hình thức đầu tư dài hạn mang lại quyền kiểm soát hoặc quyền tham gia quản lý thực tế doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu nhấn mạnh lý thuyết chuỗi giá trị du lịch, xem du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với sự tương tác giữa ba chủ thể: khách du lịch, tài nguyên du lịch và hệ thống cung ứng dịch vụ. Các tập đoàn đa quốc gia hiện nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên toàn thế giới, và 75% đến 80% lượng vốn đầu tư toàn cầu xuất phát từ các quốc gia phát triển, đòi hỏi nước tiếp nhận phải có khung thể chế đủ năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản trị tiên tiến.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thứ cấp từ Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch trong chuỗi thời gian từ năm 2001 đến năm 2010.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 282 dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh (trong đó có 19 dự án FDI chuyên ngành du lịch) và 171 cơ sở lưu trú đã được xếp hạng. Phương pháp chọn mẫu định hướng theo vùng địa bàn trọng điểm được áp dụng nhằm tập trung vào ba địa phương tiếp nhận lượng vốn lớn nhất là thành phố Vũng Tàu, huyện Tân Thành và huyện Xuyên Mộc.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích tỷ trọng cơ cấu và phương pháp chuyên gia. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác khoảng cách giữa số liệu đăng ký danh nghĩa và dòng tiền giải ngân thực tế, đồng thời đối chuẩn kinh nghiệm quản lý phát triển du lịch từ các quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Singapore và mô hình thu hút 72 dự án FDI du lịch tại tỉnh Khánh Hòa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dòng vốn FDI đăng ký vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tăng trưởng vượt bậc sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tăng từ 149 dự án với 6,198 tỷ USD năm 2006 lên 282 dự án với 27,058 tỷ USD vào năm 2010, gấp 4,4 lần sau 5 năm. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các ngành rất rõ nét: vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ - du lịch tăng từ 25,7% (1,593 tỷ USD) năm 2006 lên 44% (11,5 tỷ USD) năm 2009. Dù vậy, tổng vốn FDI thực hiện trong ngành du lịch tính đến cuối năm 2010 chỉ đạt 308,01 triệu USD trên tổng số 12,468 tỷ USD đăng ký, tương đương tỷ lệ giải ngân chỉ đạt khoảng 2,47%.

Thứ hai, cơ cấu thu hút FDI phân bổ không đồng đều theo địa bàn hành chính. Thành phố Vũng Tàu tiếp nhận nhiều nhất với 119 dự án, chiếm 42,20% tổng số dự án và 11,1 tỷ USD (chiếm 41,23% tổng vốn). Huyện Tân Thành đứng thứ hai với 104 dự án, chiếm 31,41% vốn. Huyện Xuyên Mộc đứng thứ ba với 5,1 tỷ USD (18,84% tổng vốn) nhưng tỷ lệ giải ngân thực tế tại đây chỉ đạt vỏn vẹn 1,6%.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng lưu trú phát triển nhanh về số lượng nhưng hạn chế về phân khúc cao cấp. Toàn tỉnh có 171 cơ sở lưu trú với hơn 6.000 phòng, trong đó có 75 cơ sở được xếp hạng từ 1 đến 5 sao với 4.195 phòng. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất 01 khách sạn 5 sao (144 phòng) và 07 khách sạn 4 sao (852 phòng), trong khi hệ thống khách sạn 1 đến 2 sao chiếm tới 55 cơ sở với 2.325 phòng, dẫn đến thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ dao động từ 1 đến 2 ngày.

Thứ tư, nguồn nhân lực ngành du lịch tăng trưởng 62,27%, từ 7.100 người năm 2005 lên 11.521 người năm 2009. Mặc dù vậy, nhóm lao động phổ thông, sơ cấp lại tăng mạnh nhất với mức 179,64% (từ 722 người lên 2.019 người), phản ánh tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực quản trị và kỹ năng nghề đạt chuẩn quốc tế.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn các dữ liệu trên qua biểu đồ cột so sánh giữa vốn đăng ký và vốn thực tế, khoảng cách chênh lệch tạo ra bức tranh tương phản sâu sắc. Bảng cân đối cơ cấu ngành cho thấy sự chuyển dịch nguồn vốn vào du lịch là đúng hướng, nhưng việc giải ngân đình trệ là hệ quả trực tiếp của công tác giải phóng mặt bằng kéo dài, vướng mắc trong chuyển đổi đất lâm nghiệp tại các khu vực ven biển, và hiện tượng nhà đầu tư đăng ký giữ đất để chờ chuyển nhượng.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ việc cơ quan quản lý thiếu công cụ thẩm định năng lực tài chính thực chất đối với các dự án quy mô hàng tỷ USD. So sánh với bài học thành công của Singapore trong phát triển mô hình BTMICE hay cách làm của Malaysia khi liên kết ngành du lịch với y tế và bán lẻ, Bà Rịa - Vũng Tàu chưa tạo được hệ sinh thái dịch vụ khép kín. Việc phá vỡ một số dải rừng phòng hộ tại bãi biển để làm dự án du lịch đã gây tác động xấu đến môi trường sinh thái, trong khi giá trị gia tăng thu về cho ngân sách địa phương từ nguồn thuế dịch vụ chỉ chiếm khoảng 0,45% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện quy trình thẩm định cấp phép đầu tư: Ủy ban nhân dân tỉnh cần phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện nghiêm Quyết định số 23/2007/QĐ-UBND, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính qua cơ chế một cửa liên thông. Kiên quyết thu hồi giấy phép đối với các dự án chậm triển khai quá 12 tháng không có lý do chính đáng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ giải ngân vốn FDI du lịch từ mức 2,47% hiện nay lên ít nhất 15% đến 20% trong giai đoạn 2011 - 2015.

Thứ hai, ưu tiên ngân sách nhà nước hoàn thiện hạ tầng kết nối du lịch: Tiếp tục phân bổ hiệu quả hơn 1.033 tỷ đồng vốn đầu tư công cho mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, trọng tâm là tuyến đường ven biển 65km nối Vũng Tàu - Long Hải - Bình Châu và các tuyến đường gom vào các cụm du lịch Núi Dinh, Núi Minh Đạm. Hoàn thành đồng bộ hạ tầng điện, cấp thoát nước tại các khu vực quy hoạch mới trước năm 2015.

Thứ ba, chuẩn hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cần liên kết với các trường đại học, viện đào tạo nghề mở các khóa đào tạo chuẩn hóa kỹ năng quản trị khách sạn, ngoại ngữ và nghiệp vụ phục vụ cho 15.000 lao động du lịch đến năm 2015, giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo xuống dưới 25%.

Thứ tư, đổi mới xúc tiến đầu tư và tập trung vào thị trường trọng điểm: Đẩy mạnh xúc tiến trực tiếp vào các đối tác tiềm năng lớn như Hoa Kỳ (đang chiếm 23,2% tổng vốn FDI của tỉnh) và Canada (chiếm 16,8% tổng vốn). Tập trung kêu gọi các tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng kết hợp hội nghị, sinh thái cao cấp tại Xuyên Mộc và Côn Đảo, hướng tới mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế lên 3 đến 4 ngày vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tài liệu là cẩm nang hữu ích để xây dựng quy hoạch phân vùng đầu tư, hoàn thiện chính sách ưu đãi đất đai và tối ưu hóa thủ tục hành chính.

Thứ hai, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các tập đoàn bất động sản nghỉ dưỡng và doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Luận văn cung cấp góc nhìn thực tế về môi trường kinh doanh, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, tiềm năng kết nối hạ tầng giao thông 65km ven biển và các rủi ro pháp lý cần phòng ngừa khi triển khai dự án quy mô từ 10 triệu đến trên 100 triệu USD.

Thứ three, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Phát triển và Quản trị Dịch vụ Du lịch. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, kỹ thuật xử lý dữ liệu thứ cấp và ứng dụng lý thuyết kinh tế vĩ mô vào giải quyết bài toán ngành.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ thẩm định khả năng sinh lời, phân tích rủi ro thanh khoản và đánh giá dòng tiền của các dự án bất động sản du lịch tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2006 - 2010 đạt bao nhiêu? Tỷ lệ giải ngân thực tế rất thấp, chỉ đạt 308,01 triệu USD trên tổng số 12,468 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tương đương khoảng 2,47%. Phần lớn dự án quy mô lớn còn vướng khâu giải phóng mặt bằng hoặc nhà đầu tư kéo dài tiến độ chuẩn bị.

Những quốc gia và vùng lãnh thổ nào dẫn đầu về nguồn vốn FDI đầu tư vào tỉnh? Hoa Kỳ giữ vị trí dẫn đầu với hơn 5,8 tỷ USD, chiếm 23,2% tổng vốn FDI toàn tỉnh. Đứng thứ hai là Canada với 4,2 tỷ USD (chiếm 16,8%) và thứ ba là Thái Lan với 3,8 tỷ USD (chiếm 15,2%), tập trung chủ yếu vào các dự án bất động sản du lịch quy mô lớn.

Tại sao du khách đến Bà Rịa - Vũng Tàu có thời gian lưu trú bình quân ngắn? Dù năm 2010 đón tới 8,169 triệu lượt khách, thời gian lưu trú chỉ đạt 1 đến 2 ngày do toàn tỉnh chỉ có 01 khách sạn 5 sao với 144 phòng, thiếu vắng các khu vui chơi giải trí cao cấp về đêm và chuỗi mua sắm bổ trợ đồng bộ.

Nguồn vốn FDI đã đóng góp như thế nào cho kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu? Khu vực FDI đóng góp từ 25% đến 30% GDP của tỉnh, tạo ra hơn 20.000 việc làm trực tiếp, thúc đẩy quy mô lao động ngành du lịch đạt 11.521 người năm 2009 và đóng góp vào tổng thu ngân sách nội địa hơn 18.647 tỷ đồng năm 2010.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng ngay cho du lịch địa phương? Kinh nghiệm từ Singapore về phát triển công nghệ du lịch hội nghị BTMICE và bài học từ Malaysia về sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp cùng chuỗi dịch vụ mua sắm - y tế giúp tối ưu hóa doanh thu từ khách quốc tế.

Kết luận

  • Dòng vốn FDI đăng ký vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tăng trưởng ấn tượng 4,4 lần trong giai đoạn 2006 - 2010, đạt mốc 27,058 tỷ USD với sự chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực du lịch và dịch vụ.
  • Tồn tại điểm nghẽn lớn khi tỷ lệ vốn FDI thực hiện trong ngành du lịch chỉ đạt 2,47%, đi kèm với sự mất cân đối phân bổ không gian kinh tế khi tập trung hơn 41% vốn tại thành phố Vũng Tàu.
  • Cơ cấu lưu trú thiếu hụt phòng nghỉ cao cấp 4 đến 5 sao và chất lượng nhân lực sơ cấp chiếm tỷ trọng cao (tăng 179,64%) là rào cản chính hạn chế chi tiêu và thời gian lưu trú của du khách quốc tế.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện gồm 4 nhóm giải pháp trọng tâm: hoàn thiện thể chế cấp phép, đầu tư hơn 1.033 tỷ đồng hạ tầng kỹ thuật, chuẩn hóa 15.000 nhân sự và định vị thị trường xúc tiến trọng điểm Bắc Mỹ.
  • Lộ trình triển khai giai đoạn 2011 - 2015 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc thu hồi các dự án treo, số hóa thủ tục đầu tư và kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thực sự của tỉnh.