CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU SẢN PHẨM GIẤY TẠI CÁC DOANH NGHIỆP. Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một trong những thuật ngữ sử dụng rất phổ biến. Có thể thấy khái niệm cạnh tranh xuất hiện với tần suất dày đặc trong các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị…và ở mỗi góc độ, mỗi hoàn cảnh lại có một cách định nghĩa khác nhau về “cạnh tranh”.
Theo kinh tế học Mac-Lê Nin (Nguyễn Văn Hảo, 2011) nêu rõ: “Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích cho mình” Theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt Nam (Nhiều tác giả, 2005): “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vẫn là động lực để thúc đẩy môi trường kinh doanh phát triển, nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Dựa trên nhiều bối cảnh, giác độ, khái niệm cạnh tranh được nghiên cứu và định nghĩa dưới nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, nội hàm của nó có thể được hiểu theo một cách tương đồng, chủ yếu, đó là: - Cạnh tranh là một hành động có chủ đích mà chủ thể là những cá nhân, tổ chức “” kinh tế ganh đua để kinh doanh một mặt hàng chung trong cùng một thị trường.” - Cạnh tranh là một trong những yếu tố tất yếu trong cơ chế thị trường, nhằm mục “” tiêu mở rộng thị phần, gia tăng khách hàng, đem lại mức lợi nhuận cao nhất.” ““ Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Cạnh tranh buộc người sản xuất phải nắm bắt những nhu cầu của khách hàng, áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới trong sản xuất, cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì.Ở một khía cạnh vĩ mô hơn, cạnh tranh giúp cho việc phân chia nguồn lực hạn chế hợp lý hóa, giúp cơ cấu lại nền kinh tế, gia tăng năng suất lao động và dần dần xóa bỏ 4 những chế độ độc quyền, quốc hữu.
Tuy nhiên, bản chất của sự cạnh tranh là ganh đua nên nó cũng tiềm ẩn nhiều hệ lụy. Nhiều doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận mà bất chấp, lách luật như trốn thuế, buôn lậu…nhằm cắt bớt những chi phí sản xuất hoặc các thủ đoạn phi đạo đức làm tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng lên môi trường sống. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ xuất hiện phổ biến trên rất nhiều các phương diện của môi trường kinh doanh. Thuật ngữ này tuy không mới nhưng các định nghĩa về nó cũng chỉ giới hạn ở mức độ chung chung và khó đo lường.
Có thể thấy một số các khái niệm chung về năng lực cạnh tranh như sau: “Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (Nhiều tác giả, 2005): “Năng lực ” cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. “Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Năng lực cạnh tranh là ” khả năng doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh thì thì khái niệm về năng lực cạnh tranh được đề cập và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. ““ ““ Bước vào nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là yếu tố mang tính quy luật không tránh khỏi và vì vậy, việc tạo dựng năng lực cạnh tranh như là một mục tiêu cho mỗi doanh nghiệp trong hoàn cảnh cạnh tranh quốc tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh được hiểu là đánh giá năng lực thông qua các tiêu chí định lượng hoặc định tính nhằm có được những nhận xét, biện pháp và chiến lược cho sự cạnh tranh.
Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 1. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: “ Năng lực cạnh tranh quốc gia là cách thức của một quốc gia tạo ra những lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra các điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế.” 5 Theo diễn đàn kinh tế thế giới 2017, các chuyên gia nhận định rằng: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố quyết định năng suất của một quốc gia”. Theo đó, một nền kinh tế cạnh tranh là một nền kinh tế năng “ suất, nó thúc đẩy sự thịnh vượng của một quốc gia, đem đến sự tăng trưởng vượt trội, nâng cao mức thu nhập quốc dân, niềm tin và sự hi vọng.” Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng nước đó đạt được những thành quả nhanh chóng và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc dân trên đầu người theo thời gian” Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đáp ứng và phát triển cao, tăng năng xuất lao động bằng việc cải tiến những công cụ lao động và chia sẻ nguồn lực hiệu quả. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực nội hàm trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh trên phương diện làm hài lòng khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận.
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố cốt lõi từ năng lực bên trong của doanh nghiệp qua các tiêu chí về tài chính, nhân lực, thành tựu về công nghệ…Doanh nghiệp tạo ra những lợi thế vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh của mình trong cùng một thị trường thì doanh nghiệp đó nắm phần thắng. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm là việc các doanh nghiệp đưa ra thị trường những sản phẩm tốt, giá cả hợp lý, các dịch vụ đi kèm làm hài lòng khách hàng và từ đó gia tăng lượng tiêu thụ sản phẩm. Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của Tiến sĩ “ Nguyễn Văn Thanh : “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản ” phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”. Năng lực cạnh tranh sản phẩm là toàn bộ những nỗ lực nhằm gia tăng thị phần của một mặt hàng do những đơn vị sản xuất và cung ứng đưa ra tiêu thụ sao mới sản phẩm cùng loại đem đi kinh doanh tại một thị trường và thời gian nhất định.
Năng lực cạnh tranh cao giúp doanh nghiệp tổ chức tốt vai trò của mình, phụ vụ những yêu cầu của khách hàng tốt hơn, gia tăng trải nghiệm của khách hàng. Mối quan hệ giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh Giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết và tác động “ qua lại lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia sẽ tạo điều kiện cho năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh ngành tạo động lực cho việc phát triển sản phẩm, dịch vụ hay là nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm là cấp cơ bản nhất thể hiện năng lực cạnh tranh về sản phẩm của một doanh nghiệp hay quốc gia và cũng là yếu tố cơ bản, cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh ngành và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh “Cạnh tranh tồn tại như một quy luật khách quan của nền kinh tế theo định hướng thị trường và vấn đề làm sao để nâng cao được sức cạnh tranh luôn được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài với nhiều thế mạnh về tài chính, nhân lực, công nghệ.xuất hiện và làm cho môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt. Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp.” “ Tối đa hóa lợi nhuận là mục đích kinh doanh cao nhất nên chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh được xem như là yếu tố trọng yếu trong việc phát triển và quyết định vào sự sống còn hay tồn tại của doanh nghiệp. Với xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và công cụ tạo dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp “ Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam”: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển” Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: “Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ 7 cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao.