Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN 1. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỜI HẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn Trong bất kỳ xã hội nào, con người cũng luôn giữ vai trò quyết định đối với sự phát sinh, tồn tại và và phát triển của xã hội đó.
Tác giả Phạm Thanh Bình đã chỉ ra rằng: "Tuy nhiên, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người mới được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ hoạt động xã hội. Mọi chiến lược, chính sách phát triển của Đảng ta đều nhằm tới mục đích vì con người, cho con người" [3]. Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) với vai trò là đại diện cho nhân dân, đã thể chế hóa ý chí và lợi ích của nhân dân thành pháp luật, do đó bảo vệ trật tự XHCN, bảo vệ quyền công dân là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước ta. Trên tinh thần kế thừa Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định: 1.
Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người [50, khoản 1, 2 Điều 22] Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân cũng đã được quy định tại Điều 6 BLTTHS năm 2003 và trở thành nguyên tắc quan trọng xuyên suốt toàn bộ quá trình TTHS. Tuy nhiên, trong hoạt động bảo vệ pháp luật nói chung và hoạt động chống tội phạm nói riêng vẫn cần thiết đặt ra vấn đề hạn chế một số quyền công dân, nhằm bảo đảm trật tự chung của cả xã hội. Cụ thể 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hơn, để công tác phát hiện tội phạm được nhanh chóng, chính xác, kịp thời xử lý tội phạm và hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật phải cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào đó hạn chế quyền và lợi ích của công dân, trong đó có các biện pháp ngăn chặn.
Theo Từ điển Tiếng Việt "ngăn chặn" là "chặn lại ngay từ đầu, không để cho gây tác hại" [55]. Theo định nghĩa của Giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, biện pháp ngăn chặn được hiểu là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng, công dân đối với bị can, bị cáo, người phạm tội tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảo bảo cho việc thi hành án [10, tr. Mục đích của biện pháp ngăn chặn Mục đích của các biện pháp ngăn chặn là không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, biện pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng trị như hình phạt mà nhằm mục đích phòng ngừa và có thể làm giảm hậu quả của tội phạm gây ra, để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, mặc dù khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng có thể hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người bị áp dụng.
Do đó, mọi nhận thức áp dụng biện pháp ngăn chặn để trấn áp, trừng trị người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn đều là không đúng; như quan niệm của nhà Luật học I. Karpes: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com "Giải quyết việc lựa chọn áp dụng biện pháp ngăn chặn chính là thực hiện trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người phạm tội" [54, tr. 49] hay các tác giả Phan Hữu Kỳ, Phạm Quang Mỹ là "có tác dụng trấn áp mạnh mẽ kẻ địch và các bọn tội phạm khác, thỏa mãn được yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng" [31]. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm: - Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp bách vì mỗi tội phạm xảy ra đều có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự bảo vệ.
Quy định áp dụng trong những trường hợp cụ thể như: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp khi có căn cứ để cho rằng một người nào đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003); hoặc bắt người phạm tội quả tang khi phát hiện một người đang thực hiện tội phạm (khoản 1 Điều 82 BLTTHS năm 2003). - Khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội: Người đã thực hiện xong hành vi phạm tội sau khi đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố với tư cách bị can hoặc đưa ra xét xử với tư cách bị cáo, mà có căn cứ cho rằng họ sẽ tiếp tục phạm tội nếu vẫn để họ tự do nên cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Cụ thể là: Bị can, bị cáo có những hành vi tích cực chuẩn bị thực hiện tội phạm mới và là bất kỳ loại tội nào; Bị can, bị cáo có hành vi đe dọa, trả thù người tố cáo, người làm chứng và có khả năng thực hiện sự đe dọa đó; Bị can, bị cáo trong nhiều trường hợp là những phần tử có ý thức chống đối chế độ sâu sắc, nhiều trường hợp lại là đối tượng côn đồ, hung hãn, có tiền án, tiền sự, thuộc loại tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Căn cứ này được thể hiện cụ thể trong quy định về bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; tạm giam.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử: Những biểu hiện của việc gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử có thể là bị can, bị cáo trốn khỏi nơi cư trú; nhiều lần không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng; xóa bỏ dấu vết tội phạm; tiêu hủy chứng cứ; làm thay đổi tài liệu liên quan đến tội phạm; mua chuộc người bị hại, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; thông đồng cấu kết với nhau đối phó lại hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… Căn cứ này được hiểu là bị can, bị cáo đã có hành vi gây cản trở hoặc có khả năng thực hiện ngay tức khắc việc gây cản trở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đối tượng để áp dụng căn cứ này thường là bị can, bị cáo, người bị truy nã; Cũng có thể áp dụng đối với người chưa có quyết định khởi tố bị can như một người thực hiện tội phạm và sau đó bỏ trốn hoặc sau khi phát hiện dấu vết tội phạm trên người hoặc nơi ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và có căn cứ cho rằng người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ, cụ thể là những trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang theo quy định của BLTTHS. - Để đảm bảo thi hành án: Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS, phát huy hiệu lực của bản án được thi hành trong thực tế. Việc cản trở thi hành án được thể hiện: bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, không có nghề nghiệp hoặc bị cáo có nhân thân xấu như có tiền án, tiền sự, đối tượng côn đồ hung hãn,… Khi có căn cứ cho rằng bị cáo cản trở việc thi hành án thì có thể áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn thích hợp như: Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lãnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn Thứ nhất, các biện pháp ngăn chặn thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm: Tội phạm trực tiếp hoặc hoặc gián tiếp xâm hại đến sự bền vững và ổn định của chế độ nhà nước, chế độ kinh tế - chính trị và xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do, 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân. Do đó, Nhà nước ta coi việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lí nghiêm minh nhằm tiến tới loại trừ hiện tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và phải được tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng. Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông thường, người phạm tội luôn tìm đủ mọi cách để có thể nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội lại vừa có thể che giấu, trốn tránh được sự phát hiện và trừng phạt của pháp luật, do đó, cần thiết phải ngăn chặn kịp thời ngay từ đầu các hành vi thực hiện tội phạm hoặc hành vi trốn tránh, gây khó khăn cho việc xử lý người phạm tội.