Chương I BLHS năm 1985 có hai mục: Mục A gồm các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG, là những hành vi phạm tội có mục đích chống chính quyền nhân dân; Mục B gồm các tội, tuy có liên quan đến ANQG, nhưng không có mục đích chống chính quyền nhân dân. Gộp cả hai mục, chương này có đến 29 tội xâm phạm ANQG. Trong tình hình mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, quy định trên không còn phù hợp nữa, mà phải xác định rõ những tội phạm có thể làm suy yếu hoặc trực tiếp lật đổ chính quyền, thì để lại chương “Các tội phạm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ANQG”, còn các tội khác, tuy có liên quan đến ANQG, nhưng không có mục đích chống chính quyền nhân dân, thì đưa vào các chương khác cho phù hợp và cũng để tránh luận điệu phản động xuyên tạc cho rằng, ở Việt Nam có rất nhiều người phạm tội xâm phạm ANQG. Sửa đổi theo hướng trên, Chương XI BLHS năm 1999 quy định các tội xâm phạm ANQG, gồm 14 tội từ Điều 78 đến Điều 91 (bỏ Điều 86 – các tội chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa anh em), cụ thể là: Tội phản bội Tổ quốc (Điều 78); Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79); Tội gián điệp (Điều 80); Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81); Tội bạo loạn (Điều 82); Tội hoạt động phỉ (Điều 83); Tội khủng bố (Điều 84); Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 85); Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội (Điều 86); Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 87); Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88); Tội phá rối an ninh (Điều 89); Tội chống phá trại giam (Điều 90); Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 91).
Khái niệm tội phá rối an ninh Mặc dù BLHS năm 1999 không ghi nhận định nghĩa pháp lý của tội phá rối an ninh, nhưng khái niệm này có thể được hiểu là bất kỳ hành vi nào (được liệt kê tại điều luật đã nêu) xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhằm chống chính quyền nhân dân (nhưng chưa đến mức bạo loạn) theo quan điểm của nhà làm luật [9, tr.79] Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội phá rối an ninh tại Điều 89: Điều 89. Tội phá rối an ninh 1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 82 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nói cách khác, phá rối an ninh là hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước hay tổ chức xã hội, nhằm chống chính quyền nhân dân. - Chống người thi hành công vụ: là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật và bị xâm hại thì hành vi của người có hành vi bị xâm hại không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.
Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ thì không thuộc trường hợp thi hành công vụ. Do vậy, tội phạm này chỉ bảo vệ những người thực hiện nhiệm vụ công, còn trường hợp công chức thực hiện công việc vì lợi ích hoặc động cơ cá nhân thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội phạm này. - Cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội là hành vi gây khó khăn cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. - Khái niệm “chính quyền nhân dân” được hiểu trong Điều luật này là hệ thống chính quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ý nghĩa của việc ghi nhận tội phá rối an ninh trong luật hình sự Việt Nam Tội phá rối an ninh lần đầu tiên được ghi nhận trong BLHS năm 1985, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đây là thời điểm đất nước đã thống nhất và đang trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện công cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước thời điểm năm 1985, giống như hành vi bạo loạn, hành vi phá rối an ninh cũng được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, công khai đối mặt với chính quyền, song khác với hành vi bạo loạn, hành vi phá rối an ninh không manh tính chất bạo lực vũ trang. Việc ghi nhận tội phá rối an ninh trong luật hình sự Việt Nam, cụ thể là BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 có ý nghĩa: - Xử lý (bao gồm: bắt giam, điều tra, truy tố, xét xử…) đúng người, đúng tội đối với các hành vi xâm phạm ANQG; - Tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm đối với những đối tượng thực hiện các hành vi cấu thành tội phạm nhưng chưa được quy định trong pháp luật hình sự. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội phá rối an ninh Quá trình nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm ANQG cho thấy, đây là các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có những dấu hiệu pháp lý gần nhau.
Vì vậy, việc phân tích lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự về tội phá rối an ninh sẽ được lồng ghép vào việc phân tích đối với các tội xâm phạm ANQG để có được bước tranh tổng quan về sự hình thành và phát triển của nhóm tội phạm này. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Trong hơn nửa thế kỷ xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở Việt Nam, kể từ tháng Tám năm 1945 đến nay đã khẳng định nhiệm vụ bảo vệ ANQG và đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm ANQG là vấn đề có tính quy luật để Nhà nước kiểu mới tồn tại và phát triển. Trong cuộc đấu tranh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này, pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng là hình thức ghi nhận của Nhà nước về các nhu cầu khách quan bảo vệ và phát triển các thành quả cách mạng do nhân dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự không thể tách rời nghiên cứu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn cụ thể cũng như các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự ghi nhận bảo vệ, càng không thể thoát ly các đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của từng thời kỳ lịch sử mà trong đó các văn bản pháp luật hình sự được ban hành.
Pháp luật hình sự luôn luôn thể hiện hai mặt cơ bản: trước hết đó là sự kết tinh những giá trị phổ biến, những kinh nghiệm về đấu tranh phòng chống tội phạm của các giai đoạn, thời kỳ trước đó và tại giai đoạn nó được ban hành; mặt khác, pháp luật hình sự được ban hành để bảo vệ lợi ích giai cấp và trật tự xã hội theo quan điểm của giai cấp thống trị. Do vậy, cả hai mặt đó đều phải được nghiên cứu đồng thời để rút ra những giá trị hợp lý nhằm kế thừa và phát triển [3, tr. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự trên cơ sở những quan điểm nêu trên, chúng ta mới thấy rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật hình sự trong từng giai đoạn lịch sử, mới có thể hiểu đầy đủ, đúng đắn nội dung của các quy phạm và chính sách hình sự của nhà nước. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm ANQG từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa hình sự năm 1985, chia thành các giai đoạn sau: 1.
Giai đoạn năm 1945 đến 1960 Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta thực sự trở thành chủ nhân của đất nước và làm chủ vận mệnh của mình. Ngay từ những ngày chính quyền còn đang “trứng nước”, ở miền Bắc, nhân dân ra phải chống chọi với hậu quả của nạn đói, do chính sách vơ vét đến kiệt quệ của Nhật – Pháp và hậu quả của lụt lội gây ra, mặt khác phải đối phó với 20 vạn quân Tưởng và bè lũ tay sai lợi dụng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com danh nghĩa đồng minh hòng thực hiện âm mưu thủ tiêu chính quyền cách mạng; ở miền Nam, thực dân Anh và quân đội Pháp kéo đến chiếm lại Nam Bộ, mưu toan dùng địa bàn này làm bàn đạp chiếm lại toàn bộ nước ta [3, tr. Trước âm mưu thâm độc của kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân ta là sử dụng mọi lực lượng, biện pháp và hình thức đấu tranh để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, chống lại những âm mưu đen tối của kẻ thù bên trong và các thế lực đế quốc. Xét trên phương diện pháp luật hình sự, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tội xâm phạm ANQG được Nhà nước ta rất chú trọng và luôn luôn có những bổ sung kịp thời trước những đòi hỏi khách quan của tình hình và nhiệm vụ chung của sự nghiệp cách mạng.
Có thể thấy nhận xét này qua tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật hình sự được ban hành trong giai đoạn này. Ngay trong tháng chín năm 1945, lực lượng Liêm phóng đã kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 08 ngày 05/9/1945 về giải tán những đảng phái phản động.