Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Những vấn đề lý luận về thỏa ước lao động tập thể 1. Khái niệm, đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể Sau khi nền kinh tế thị trường ra đời, mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ luôn tồn tại sự bất bình đẳng. Trong mối quan hệ đó, NLĐ luôn ở vị thế yếu hơn so với NSDLĐ, bởi họ phải chịu nhiều tác động hơn của quy luật cung cầu sức lao động, sức ép mất việc làm, thất nghiệp.
Trước tình hình đó, những NLĐ đã tìm ra phương thức để có thể đòi hỏi những quyền lợi tốt hơn, đó là liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh tập thể và thành lập ra các tổ chức công đoàn để đứng ra thương lượng, thỏa thuận với NSDLĐ nhằm bảo vệ NLĐ. Và kết quả của sự thương lượng giữa NSDLĐ và tập thể NLĐ thông thường là bản thỏa ước lao động tập thể. Thỏa ước lao động tập thể tồn tại và được ghi nhận ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới. Ở các nước tư bản, thỏa ước lao động được hình thành cuối thế kỳ 18, đầu thế kỷ 19 như Anh, Mỹ, Phần Lan, Đan Mạch.
* Khái niệm thương lượng tập thể Theo quy định tại Điều 66 BLLĐ năm 2012, TLTT là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với NSDLĐ nhằm: xây dựng QHLĐ hài hoà, ổn định và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết TƯLĐTT; Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ. TLTT là biểu hiện của QHLĐ, là một trong các phương thức của đối thoại giúp duy trì QHLĐ hài hoà, ổn định, tiến bộ đồng thời là công cụ hữu hiệu góp phần phòng ngừa, hạn chế và giải quyết TCLĐ, đình công. Theo tổ chức ILO, đường lối đúng đắn về một quá trình, trong đó hai hay nhiều bên có lợi ích chung và lợi ích xung đột ngồi lại cùng nhau để thảo luận nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung. TLTT là một hình thức đặc biệt, là quá trình thực hiện đường lối đúng đắn về giữa tập thể NLĐ với cá nhân hay tập thể NSDLĐ nhằm đạt được những thoả thuận chung về vấn đề cùng quan tâm.
6 * Khái niệm thỏa ước lao động tập thể TƯLĐTT được xem là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của NLĐ bằng cách thông qua người đại diện của mình là công đoàn để thiết lập điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao động, đó là một trong những tiêu chí cơ bản của vấn đề về nhân quyền. Khái niệm TƯLĐTT được ghi nhận trong pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia và pháp luật Việt Nam. ILO đã có hai công ước trực tiếp về TƯLĐTT đó là Công ước số 98 (năm 1949) về việc áp dụng các nguyên tắc của quyền tổ chức và TLTT; Công ước số 154 (năm 1981) về xúc tiến TLTT. Khuyến nghị số 91 của ILO đã đưa ra khái niệm TƯLĐTT mang tính mở cho phù hợp với những điều kiện khác nhau của mỗi quốc gia.
Theo đó, "Thỏa ước lao động tập thể là tất cả các bản thỏa thuận viết liên quan đến việc làm và điều kiện lao động được ký kết giữa một bên là người sử dụng lao động, một hoặc một nhóm hiệp hội giới chủ với bên kia là một hoặc nhiều tổ chức của người lao động. Trong trường hợp không có tổ chức đại diện cho bên lao động như đã nêu thì những người được tập thể lao động bầu ra và được trao quyền một cách hợp thức theo pháp luật của quốc gia cũng sẽ có quyền ký kết thỏa ước lao động tập thể" [38]. Các quốc gia như Mỹ, Nhật và các nước trong khối EU hầu như có chung cách hiểu như khái niệm đã được nêu trong Khuyến nghị số 91 của ILO. Ví dụ, theo quy định tại Luật Công đoàn của Nhật Bản "Một thỏa ước tập thể giữa công đoàn và một người sử dụng lao động hay một tổ chức của người sử dụng lao động liên quan tới các điều kiện làm việc và các vấn đề khác sẽ có hiệu lực khi thỏa thuận được đặt dưới dạng văn bản và được ký bằng tên hay ghi tên đóng dấu bởi cả hai bên liên quan" [27].
Còn theo Luật Thương lượng tập thể của Thụy Điển, "Thỏa ước tập thể nghĩa là một thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức giới chủ hoặc người sử dụng lao động với tổ chức của người lao động về điều kiện việc làm hoặc về những vấn đề khác thuộc mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động". Tuy nhiên, cũng có một vài khác biệt. Về hình thức của TƯLĐTT không nhất thiết phải bằng văn bản (ở nước Anh và Đan Mạch); hay về chủ thể ký kết, không nhất thiết phải là công đoàn mà có thể thỏa ước được ký bởi một tập thể lao động - ít nhất là 2 người (nước Đan Mạch) 7 Ở Việt Nam, TƯLĐTT chủ yếu được ký kết ở cấp doanh nghiệp và tại Mục 5, Chương V Bộ luật lao động năm 2012 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về TƯLĐTT doanh nghiệp mà chỉ đưa ra định nghĩa về “ Thỏa ước lao động tập thể” được quy định tại điều 73 của Bộ luật: “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể”. Bên cạnh đó, tại Mục II Khuyến nghị số 91 ngày 29/06/1951 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra định nghĩa về TƯLĐTT tương đối mở, tạo điều kiện cho các quốc gia căn cứ thực tiễn của mình quy định về vấn đề này.
Theo Khuyến nghị này thì “thuật ngữ thỏa ước lao động tập thể được hiểu là tất cả các thỏa thuận bằng văn bản có liên quan tới việc làm và điều kiện lao động, được ký kết giữa một bên là người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều nhóm hiệp hội giới chủ, với bên kia, là một hay nhiều tổ chức là đại diện của người lao động; hoặc nếu không có tổ chức đại diện, thì đại diện của người lao động được bầu ra và trao quyền một cách hợp thức theo quy định của pháp luật quốc gia thì cũng sẽ có quyền năng để thực hiện việc ký kết thỏa ước tập thể”. Từ quan điểm của ILO và một số quốc gia trên thế giới, tác giả xin đưa ra hai định nghĩa về TƯLĐTT doanh nghiệp và TƯLĐTT ngành như sau: - Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp là văn bản thỏa thuận giữa đại diện người lao động tại cơ sở với người sử dụng lao động hoặc đại diện hợp pháp của người sử dụng lao động trong doanh nghiệp về các điều kiện lao động căn bản mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể ở phạm vi doanh nghiệp. - Thỏa ước lao động tập thể ngành là văn bản thỏa thuận giữa một bên là đại diện của tập thể lao động với một bên là đại diện của tổ chức người sử dụng lao động tham gia thương lượng tập thể ngành; nhằm xác định các điều kiện lao động mà các bên đã đạt được trong quá trình thương lượng tập thể. Vai trò của thỏa ước lao động tập thể - Thứ nhất, TƯLĐTT tạo nên cộng đồng trách nhiệm và quyền lợi giữa hai bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động.
8 Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, TƯLĐTT được ký kết đã tạo nên cộng đồng trách nhiệm và quyền lợi chung giữa các bên. Cơ sở của cộng đồng trách nhiệm và quyền lợi giữa hai bên của quan hệ lao động chính là nhu cầu hợp tác để đạt được mục đích của mỗi bên. NSDLĐ cần tới sức lao động của NLĐ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và thông qua đó mà tìm kiếm lợi nhuận. Về phía NLĐ, bản thân họ có sức lao động, họ cũng cần cung ứng sức lao động của mình cho chủ sử dụng lao động để có thu nhập bù đắp, nuôi sống bản thân và gia đình.
Xuất phát từ nhu cầu đó mà cả NLĐ và NSDLĐ đều cần phải hợp tác với nhau trong mối QHLĐ. Song, hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận của chủ sử dụng lao động cũng như thu nhập của NLĐ lại phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách nhiệm của các bên và việc các bên thực hiện các cam kết của mình trên thực tế. Chẳng hạn, NSDLĐ phải tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ, khuyến khích động viên kịp thời NLĐ cả vật chất lẫn tinh thần; đồng thời NLĐ cũng phải phát huy hết khả năng của mình để nâng cao năng suất lao động cho doanh nghiệp, từ đó nâng cao thu nhập. Biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất để nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên đồng thời cũng giúp các bên đạt được lợi ích kinh tế của mình chính là TƯLĐTT.
Theo quy định của pháp luật lao động chỉ xác lập khung pháp lý cơ bản để các bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên nhà nước khuyến khích các nội dung của TƯLĐTT DN cao hơn quy định pháp luật. Do đó, thông qua ký kết TƯLĐTT để các bên cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ cho phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện của từng DN. TƯLĐTT thể hiện tính tự nguyện của các bên trong QHLĐ, khi thỏa ước được thông qua, sẽ có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với NSDLĐ và NLĐ, hạn chế những phát sinh không được thỏa thuận từ hai phía, góp phần ổn định hoạt động của DN.
Qua đó, cho chúng ta thấy TƯLĐTT là sự hợp tác, cộng đồng trách nhiệm giữa các bên QHLĐ được thể hiện trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động và cụ thể trong thỏa ước. - Thứ hai, thỏa ước lao động tập thể góp phần điều hòa lợi ích, ngăn ngừa mâu thuẫn xung đột trong QHLĐ. TƯLĐTT chính là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật về QHLĐ sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp. Đối với NLĐ, 9 TƯLĐTT chính là công cụ để họ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, bảo đảm cho họ được bình đẳng hơn trong mối quan hệ với NSDLĐ.