Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 1. Bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1. Nguồn gốc của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) là một trong những hình thức biểu hiện của hạn chế cạnh tranh, có thể gây nguy hại đến động lực phát triển kinh tế của xã hội và vi phạm tới lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Do đó, pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều trừng phạt nghiêm khắc các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Những tiền đề để xuất hiện cạnh tranh cũng là những tiền đề để những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tồn tại. Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế là một trong những lý do không cho cạnh tranh tồn tại, điều đó cũng đồng nghĩa với việc không cần có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Nền kinh tế thị trường là môi trường của cạnh tranh, với sự ghi nhận quyền tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do thương mại là điểm tựa, là môi trường của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Không thể phủ nhận rằng cạnh tranh với các hiệu ứng tích cực của nó đối với nền kinh tế, khiến các quốc gia đã và đang phát triển luôn luôn khuyến khích cạnh tranh.
Trong quan hệ cạnh tranh thì việc thành công hay thất bại luôn luôn là kết quả mà các đối thủ tham gia đều nhận thấy, mặc dù trước khi tham gia họ không chắc chắn. Chính từ yếu tố không muốn phải chịu rủi ro về phía mình, các đối thủ trong quan hệ cạnh tranh có thể có sự thoả thuận, hay nói cách khác đây chính là nguồn gốc của sự tự do khế ước và sự thoả thuận về điều kiện kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh, để mục tiêu đều là những người thắng cuộc. Để đạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được điều này đòi hỏi họ phải có sự hợp tác, phải có sự thoả thuận. Mọi vấn đề trong xã hội, từ lớn đến nhỏ đều dựa trên nền tảng khế ước, Nhà nước chỉ can thiệp vào sự thoả thuận, sự tự do khế ước chừng nào sự tự do đó xâm phạm các lợi ích công cộng hoặc xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Xét cho cùng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện giữa các doanh nghiệp nên nó phải được hình thành trên nền tảng của nguyên tắc tự do khế ước. Các doanh nghiệp có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ, liên kết, hợp tác và đồng thời các doanh nghiệp cũng có quyền tự do lựa chọn nội dung thỏa thuận. Tuy nhiên sự “tự do” của các doanh nghiệp chỉ được coi là hợp pháp khi sự thể hiện ý chí đó phù hợp với ý chí của Nhà nước, phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Mặc dù khái niệm “cạnh tranh” và “khế ước” (thoả thuận) có những nội dung khác biệt song chúng có liên quan mật thiết khi được sử dụng để đánh giá về cạnh trạnh.
Trước sức ép của cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tiến lên bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, thậm chí có trường hợp còn vận dụng cả các biện pháp cạnh tranh bất hợp pháp để loại bỏ đối thủ hoặc chí ít cũng là để chiếm ưu thế trước đối thủ trên một phương diện nào đó. Khi loại bỏ được cạnh tranh thông qua thỏa thuận, các doanh nghiệp tham gia có thể thu được lợi nhuận lớn mà không cần phải cải thiện năng lực cung ứng hàng hóa, dịch vụ của mình. Mặc dù nguyên tắc tự do khế ước được pháp luật thừa nhận là một nguyên tắc cơ bản trong việc xác lập các quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể bằng hợp đồng, nhưng sự tự do đó luôn luôn phải trong một khuôn khổ, một giới hạn. Do đó, những thoả thuận giữa các doanh nghiệp với mục đích là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì có thể sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do sự tác động của các quy luật kinh tế cũng như nhu cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà sự liên kết giữa các doanh nghiệp theo các tiêu chí về ngành nghề, theo khu vực, theo chu trình phân phối… là một tất yếu. Chính từ nhu cầu liên kết này giữa các doanh nghiệp mà xuất hiện các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp theo các tiêu chí kể trên, thậm chí cả những liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng chung lĩnh vực, địa bàn hoạt động. Như vậy, quyền tự do lập hội cũng là một trong những tiền đề để ra đời và ảnh hưởng tới thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, hiệp hội. Việc các doanh nghiệp cùng ngành nghề liên kết lại với nhau dưới hình thức Hội là hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hoạt động của bất kỳ một hiệp hội nào cũng phải được tiến hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật và đặc biệt là không được ảnh hưởng tới lợi ích của những hội khác, những người khác. Trong trường hợp này, nếu các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì sự liên kết đó là những liên kết bất hợp pháp. Về nguyên tắc, với mục tiêu nhằm loại bỏ, thủ tiêu sức ép cạnh tranh nên các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị coi là vô hiệu và chủ thể thực hiện hành vi nói trên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định. Tuy nhiên, trước các mục tiêu của chính sách cạnh tranh, việc áp dụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần phải thực hiện một cách thận trọng, đặc biệt khi lợi ích của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh lớn hơn so với hậu quả của nó mang lại cho thị trường.
Theo đó, các tiêu chí thuộc “lợi ích công” sau đây có thể được vận dụng để thực hiện miễn trừ việc áp dụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: - Lợi ích của thị trường như: tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên thị trường quốc tế. - Lợi ích của chính doanh nghiệp đó như: hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Lợi ích của người tiêu dùng như: việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá. Qua đó, cho thấy lợi ích công chính là tiêu chuẩn xác định tính hợp pháp của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Một số quốc gia đưa ra tiêu chuẩn để xác định những giới hạn đối với phạm vi áp dụng quy định cấm thoả thuận phản cạnh tranh, theo đó “giới hạn” được thừa nhận ở một số quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, Cộng hoà Pháp thừa nhận: có thể coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được chấp nhận nếu sự thoả thuận đó không gây ra hoặc có thể xâm hại đến cạnh tranh nhưng ở dưới ngưỡng cho phép. Qua những phân tích về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể nhận định rằng: các chủ thể, các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường có quyền tự do lựa chọn các doanh nghiệp khác để hợp tác, liên kết thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nội dung liên kết, hợp tác đó phải đảm bảo không ảnh hưởng tới lợi ích công cộng, lợi ích của các doanh nghiệp khác và lợi ích của người tiêu dùng. Do đó, khi các thỏa thuận liên kết xâm hại đến các lợi ích kể trên thì sẽ bị coi là hành vi trái pháp luật và thỏa thuận đó sẽ bị xem là vô hiệu.
Qua các phân tích trên cho thấy, nếu như cạnh tranh là cần thiết cho hoạt động của thị trường thì các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là công cụ của các doanh nghiệp nhằm thủ tiêu cạnh tranh trên thị trường. Thông thường hệ quả của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là tạo ra những nhóm độc quyền hoặc gần như độc quyền nhằm nâng giá hàng hóa, giảm sản lượng sản phẩm.để 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thu lợi nhuận độc quyền. Qua đó, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã bóp méo sự công bằng trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế, làm giảm phúc lợi xã hội, làm giảm năng suất lao động, trì hoãn tốc độ cải thiện công nghệ… Mặt khác, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn loại bỏ trực tiếp cơ hội tham gia cạnh tranh của các doanh nghiệp tiềm năng, các doanh nghiệp đứng ngoài sự thoả thuận. Về bản chất, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được coi là một loại hợp đồng với những hình thức thể hiện đa dạng: thỏa thuận khung, nghị quyết, biên bản ghi nhớ,.
hoặc ngầm định thông qua việc thống nhất hành động. Tuy nhiên, loại hợp đồng này có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật do đi ngược lại lợi ích của cạnh tranh - yếu tố mà pháp luật khuyến khích. Vì vậy, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần phải được kiểm soát, chế ước bởi pháp luật thông qua một hệ thống các chế tài đa dạng và linh hoạt. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1.
Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Trong kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa “Cartel” là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các mặt hàng có liên quan nhưng có thể có hại cho các bên khác.